Mở rộng nhiệm vụ của các tổ chức BHTG
Trên phạm vi toàn cầu, nhiệm vụ của các tổ chức BHTG đang tiếp tục được mở rộng, chủ yếu từ mô hình thuần chi trả (paybox) sang chi trả với quyền hạn mở rộng (paybox plus). Tỷ trọng các tổ chức BHTG theo mô hình thuần chi trả đã giảm từ 29% năm 2013 xuống còn 14% năm 2024. Trong khi đó, mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng tiếp tục gia tăng và hiện chiếm một nửa số tổ chức BHTG trên toàn cầu. Hai mô hình giảm thiểu tổn thất (loss minimiser) và giảm thiểu rủi ro (risk minimiser) nhìn chung duy trì ổn định, chiếm khoảng 1/3 tổng số tổ chức BHTG.
Mức độ tham gia của các tổ chức BHTG vào xử lý đổ vỡ không chi trả cũng ở mức cao và tiếp tục tăng. Tính đến năm 2024, nhóm tổ chức hoạt động theo các mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng, giảm thiểu tổn thất và giảm thiểu rủi ro chiếm 86% tổng số tổ chức BHTG trên toàn cầu, tăng đáng kể so với mức 71% năm 2013. Điều này cho thấy xu hướng mở rộng nhiệm vụ đã hình thành rõ nét trong cộng đồng BHTG quốc tế.
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các khu vực vẫn đáng kể. Mô hình thuần chi trả vẫn phổ biến tại Trung Đông và châu Phi (33%) và châu Á - Thái Bình Dương (33%). Trong khi đó, mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng là loại hình chủ đạo tại châu Âu (62%) và Mỹ Latinh - Caribe (50%). Riêng mô hình giảm thiểu tổn thất xuất hiện nhiều hơn ở khu vực Mỹ Latinh - Caribe, chiếm 27% số tổ chức trong mẫu khảo sát. Bắc Mỹ là khu vực duy nhất không có tổ chức BHTG theo mô hình thuần chi trả; thay vào đó, mô hình giảm thiểu rủi ro chiếm ưu thế với tỷ lệ 75%, cao hơn nhiều so với mức bình quân toàn cầu là 17%.
Vai trò ngày càng tăng trong xử lý đổ vỡ
Trong thập kỷ qua, mức độ tham gia của các tổ chức BHTG vào xử lý đổ vỡ ngân hàng đã tăng rõ rệt. Tỷ lệ tổ chức BHTG tham gia xử lý đổ vỡ tăng từ 67% năm 2013 lên 82% năm 2024. Phần lớn mức tăng này đến từ việc ngày càng nhiều tổ chức BHTG được yêu cầu đóng góp tài chính cho cả phương án xử lý có chi trả và không chi trả. Xu hướng này đi cùng với sự gia tăng của mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng.
Tỷ trọng các tổ chức BHTG không có trách nhiệm trong xử lý đổ vỡ đã giảm liên tục từ năm 2013. Đồng thời, tỷ lệ tổ chức BHTG tự xác định là cơ quan xử lý đổ vỡ ngân hàng cũng tăng từ 25% lên 37% trong giai đoạn này.
Dù vậy, tỷ lệ tổ chức BHTG có thẩm quyền ra quyết định duy nhất trong xử lý đổ vỡ vẫn thấp và ổn định ở mức 8%. Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự phối hợp giữa các thành viên Mạng an toàn tài chính trong quá trình xử lý đổ vỡ, một nội dung được đặc biệt nhấn mạnh trong đợt rà soát gần đây của Bộ Nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả.
Mức độ tham gia vào xử lý đổ vỡ cũng khác nhau đáng kể giữa các khu vực. Tại Trung Đông và châu Phi (33%) và châu Á - Thái Bình Dương (24%), tỷ lệ tổ chức BHTG không có trách nhiệm trong xử lý đổ vỡ cao hơn mức bình quân, nhiều khả năng gắn với tỷ trọng lớn của mô hình thuần chi trả. Tuy nhiên, trong nội bộ châu Á - Thái Bình Dương, mức độ tham gia lại khá đa dạng, khi khoảng một nửa số tổ chức BHTG có tham gia vào quá trình xử lý đổ vỡ bằng cách đóng góp ý kiến hoặc nắm quyền ra quyết định.
Tại châu Âu, phần lớn tổ chức BHTG có nghĩa vụ tham gia tài trợ cho xử lý đổ vỡ, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các khu vực (64%). Ở Mỹ Latinh - Caribe, tỷ lệ tổ chức BHTG tham gia đóng góp vào quyết định xử lý đổ vỡ cũng cao, ở mức 64%, cao hơn mức bình quân toàn cầu. Còn tại Bắc Mỹ, toàn bộ các tổ chức BHTG trong mẫu khảo sát đều tham gia tích cực vào xử lý đổ vỡ, thông qua vai trò tham gia hoặc trực tiếp ra quyết định.
Tăng cường phối hợp trong Mạng an toàn tài chính
Khoảng 3/4 số tổ chức BHTG đã ký kết các thỏa thuận chính thức với các thành viên khác trong Mạng an toàn tài chính, thường dưới hình thức Biên bản ghi nhớ (MoU), nhằm thiết lập khuôn khổ hợp tác và chia sẻ thông tin.
Trong nhóm tổ chức BHTG tham gia vào quyết định xử lý đổ vỡ, 81% đã ký thỏa thuận chính thức, so với 74% ở nhóm không có trách nhiệm xử lý. Đối với các tổ chức có thẩm quyền ra quyết định duy nhất, tỷ lệ này tăng lên 90%.
Tuy nhiên, vẫn có 28% tổ chức BHTG tham gia tài trợ xử lý đổ vỡ nhưng không có quyền ra quyết định chưa thiết lập thỏa thuận chính thức với các thành viên khác trong Mạng an toàn tài chính. Trong một số khu vực pháp lý, điều này có thể ảnh hưởng đến sự tham gia sớm của tổ chức BHTG khi quỹ của họ được sử dụng trong xử lý đổ vỡ, cũng như đến hiệu quả phối hợp, điều phối và chia sẻ thông tin.
Bên cạnh đó, mức độ sẵn có của các công cụ xử lý đổ vỡ tiếp tục được mở rộng, dù vẫn có khác biệt giữa các khu vực. Trong mẫu khảo sát, công cụ mua lại và tiếp nhận/chuyển giao hoạt động kinh doanh là công cụ phổ biến nhất (91%), tiếp theo là ngân hàng bắc cầu (79%) và tự cứu trợ bail-in (60%).
Cải thiện trong chi trả bảo hiểm
Chi trả cho người gửi tiền được bảo hiểm là một chức năng cốt lõi của mọi tổ chức BHTG. Theo Nguyên tắc cơ bản số 15, phần lớn người gửi tiền được bảo hiểm phải được chi trả trong vòng 7 ngày. Bộ Nguyên tắc cơ bản năm 2025 còn đặt mục tiêu người gửi tiền được khôi phục quyền tiếp cận tiền gửi được bảo hiểm càng sớm càng tốt, nhưng chậm nhất trong vòng 3 ngày kể từ khi việc chi trả được kích hoạt.
Trong thập kỷ qua, tốc độ chi trả đã được cải thiện đáng kể, dù một số tổ chức BHTG vẫn gặp khó khăn trong việc đáp ứng các chuẩn mực quốc tế. Tỷ lệ tổ chức BHTG bắt đầu chi trả trong vòng 7 ngày đã tăng từ 33% năm 2013 lên 70% năm 2024. Tỷ lệ bắt đầu chi trả trong vòng 3 ngày cũng tăng mạnh, từ 17% lên 37%.
Thời gian bắt đầu chi trả đã rút ngắn ở tất cả các khu vực. Tại Trung Đông và châu Phi, Mỹ Latinh - Caribe và châu Âu, thời gian này giảm từ trên 20 ngày năm 2013 xuống còn khoảng 6-7 ngày vào năm 2024. Tại châu Á - Thái Bình Dương, thời gian bắt đầu chi trả giảm từ 18 ngày xuống còn 5 ngày. Bắc Mỹ tiếp tục duy trì tốc độ rất nhanh, với thời gian trung bình là 1 ngày.
Báo cáo cũng cho thấy việc tiếp cận sớm hồ sơ người gửi tiền có tác động rõ rệt đến tốc độ chi trả. Khoảng 72% tổ chức BHTG được tiếp cận hồ sơ trước khi tổ chức nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán có thể bắt đầu chi trả trong vòng 7 ngày, trong khi tỷ lệ này chỉ là 64% ở nhóm được tiếp cận dữ liệu muộn hơn. Tương tự, tỷ lệ bắt đầu chi trả trong vòng 3 ngày là 38% ở nhóm có quyền tiếp cận sớm, so với 28% ở nhóm còn lại. Nguồn thông tin chủ yếu mà các tổ chức BHTG sử dụng vẫn là dữ liệu do các tổ chức thành viên cung cấp trực tiếp.
Hạn mức và phạm vi bảo hiểm
Các hệ thống BHTG hiện đang bảo vệ một khối lượng tiền gửi rất lớn của cá nhân và ngày càng nhiều pháp nhân trên thế giới. Tính đến cuối năm 2024, tổng tiền gửi đủ điều kiện được bảo hiểm đạt 56,3 nghìn tỷ USD tại 86 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó 29,5 nghìn tỷ USD đang được bảo hiểm. Đối với 73 quốc gia có dữ liệu liên tục từ năm 2013, tổng tiền gửi đủ điều kiện bảo hiểm trong năm 2024 đạt 46,5 nghìn tỷ USD, trong đó 54%, tương đương 24,9 nghìn tỷ USD, được bảo hiểm.
Tiền gửi của cá nhân đều thuộc diện đủ điều kiện được bảo hiểm ở tất cả các tổ chức trả lời khảo sát. Trong khi đó, tỷ lệ BHTG mở rộng bảo vệ đối với doanh nghiệp phi tài chính và các pháp nhân đủ điều kiện khác đã tăng từ 83% lên 89% trong 5 năm qua.
Các hệ thống BHTG tiếp tục bảo vệ toàn bộ cho đại đa số người gửi tiền. Tỷ lệ bình quân toàn cầu người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ duy trì ổn định ở mức 96%. Tỷ lệ này cũng bám sát xu hướng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ Latinh - Caribe trong suốt thập kỷ qua. Tại Trung Đông và châu Phi, tỷ lệ người gửi tiền có nguy cơ chịu tổn thất vượt quá hạn mức bảo hiểm đã giảm từ 4% xuống 3%, một phần nhờ việc hình thành thêm các hệ thống BHTG mới.
Trong những năm gần đây, tỷ lệ người gửi tiền có tiền gửi vượt quá hạn mức bảo hiểm vẫn ở mức thấp, dù đã tăng tại Bắc Mỹ. Tại châu Âu, tỷ lệ này giảm từ 6% năm 2013 xuống còn 5% năm 2024.
Một xu hướng đáng chú ý khác là hạn mức bảo hiểm bình quân toàn cầu so với GDP bình quân đầu người đã giảm dần, từ 4,6 lần năm 2013 xuống còn 3,2 lần năm 2024, tiến gần về mức khoảng 3 lần. Diễn biến này xuất hiện ở tất cả các khu vực và phản ánh xu hướng hội tụ về hạn mức bảo hiểm. Nguyên nhân chủ yếu là tăng trưởng kinh tế, mức giá tăng, trong khi hạn mức bảo hiểm danh nghĩa không được điều chỉnh thường xuyên.
Bình quân, các tổ chức BHTG đang bảo hiểm cho hơn 40% giá trị tiền gửi đủ điều kiện; tỷ lệ này hầu như không thay đổi trong những năm gần đây. Tiền gửi được bảo hiểm tương đương 42% tổng số tiền gửi đủ điều kiện, nghĩa là 58% còn lại vẫn chịu kỷ luật thị trường.
Tại Bắc Mỹ và châu Âu, tỷ lệ bảo hiểm đã giảm dần trong thập kỷ qua, từ 58% và 59% năm 2013 xuống còn 49% và 54% năm 2024. Tại Mỹ Latinh - Caribe, tỷ lệ này tương đối ổn định quanh mức 35%. Ở châu Á - Thái Bình Dương, tỷ lệ bảo hiểm gần đây giảm xuống còn 39%, dù xu hướng này phần nào được bù đắp bởi các đợt nâng hạn mức bảo hiểm tại một số khu vực pháp lý trong năm 2024. Mức thấp nhất được ghi nhận tại Trung Đông và châu Phi, với tỷ lệ 17%.
Nhìn chung, có thể quan sát thấy một mức độ hội tụ toàn cầu nhất định trong bảo hiểm tiền gửi. Không chỉ hạn mức bảo hiểm tương đối so với thu nhập đang dần hội tụ, mà cả tỷ lệ người gửi tiền được bảo vệ toàn bộ và tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ cũng có xu hướng tiến gần nhau hơn giữa các khu vực.
Nguồn vốn và cơ chế hỗ trợ công
Tính đến tháng 12/2024, nguồn vốn cấp trước (ex-ante) của các tổ chức BHTG trên toàn cầu đã vượt 400 tỷ USD. Phần lớn nguồn lực này tập trung ở Bắc Mỹ, châu Á - Thái Bình Dương và châu Âu. Cơ cấu phân bổ quỹ theo nhiệm vụ nhìn chung ổn định trong thập kỷ qua: khoảng 44% thuộc nhóm giảm thiểu rủi ro, 29% thuộc nhóm chi trả với quyền hạn mở rộng, còn nhóm giảm thiểu tổn thất duy trì quanh mức 24%.
Dữ liệu mới nhất cho thấy quy mô quỹ BHTG tiếp tục gia tăng, với tỷ lệ trung bình toàn cầu đạt 2,5% tiền gửi được bảo hiểm vào cuối năm 2024. Tuy nhiên, chênh lệch giữa các khu vực vẫn khá rõ. Bắc Mỹ và châu Âu có tỷ lệ quỹ tương đương nhau, cùng ở mức 1,3%. Châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ Latinh - Caribe có mức cao hơn, lần lượt đạt 2,0% và 7,8%.
Tỷ lệ quỹ BHTG trên tiền gửi được bảo hiểm có xu hướng giảm khi mức thu nhập tăng lên, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ hơn với các yếu tố cơ cấu khác, bao gồm cả mức độ phát triển của Mạng an toàn tài chính, hơn là chỉ với nhiệm vụ của tổ chức BHTG.
Khoảng 84% tổ chức BHTG áp dụng mức mục tiêu quỹ để định hướng tích lũy nguồn lực tài chính. Mức mục tiêu này thường được xác định dưới dạng tỷ lệ giữa quỹ BHTG và tiền gửi được bảo hiểm. Theo đó, mức mục tiêu trung bình là 0,8% tại châu Âu, 1,3% tại Bắc Mỹ, 4,2% tại châu Á - Thái Bình Dương, 6,7% tại Mỹ Latinh - Caribe và 21,1% tại Trung Đông và châu Phi.
Phí bảo hiểm phân biệt theo rủi ro ngày càng phổ biến
Trong quá trình tích lũy nguồn lực tài chính, các tổ chức BHTG ngày càng áp dụng hệ thống phí bảo hiểm phân biệt theo mức độ rủi ro nhằm hạn chế rủi ro đạo đức. Tỷ lệ áp dụng cơ chế này đã tăng từ 43% lên 62% trong thập kỷ qua.
Các tổ chức với nhiệm vụ rộng hơn có xu hướng áp dụng cơ chế phí phân biệt nhiều hơn. Cụ thể, tỷ lệ này là 84% ở nhóm giảm thiểu rủi ro, 71% ở nhóm giảm thiểu tổn thất, 54% ở nhóm chi trả với quyền hạn mở rộng và 32% ở nhóm thuần chi trả. Khác biệt này có thể gắn với yêu cầu về khả năng tiếp cận dữ liệu để triển khai hệ thống phí phân biệt.
Cơ chế hỗ trợ công đang được mở rộng
Báo cáo cũng cho thấy tiến triển trong việc mở rộng các cơ chế tài trợ đặc biệt, bao gồm cả nguồn hỗ trợ công phục vụ quản lý khủng hoảng. Có 74% tổ chức BHTG cho biết khuôn khổ pháp lý tại nước mình cho phép một số hình thức hỗ trợ từ Chính phủ hoặc ngân hàng trung ương, tăng từ mức 63% năm 2013.
Trong đó, sự tham gia của Chính phủ phổ biến hơn, với tỷ lệ 61%, so với ngân hàng trung ương là 43%. Các nguồn tài trợ từ ngân hàng phát triển hoặc tổ chức quốc tế ít phổ biến hơn, ở mức 27%.
HL




