Thông tư quy định chi tiết khoản 5 Điều 14, khoản 1 Điều 19, khoản 8 Điều 19, khoản 3 Điều 29, khoản 3 Điều 33 Luật BHTG năm 2025 liên quan đến: phí BHTG; việc trả tiền bảo hiểm; phương thức đầu tư, kiểm soát, quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư; cung cấp thông tin và hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN).
Về phí BHTG
Thông tư 04 quy định phí BHTG được tính và nộp định kỳ hằng quý trong năm tài chính, tổ chức tham gia BHTG phải tính và nộp phí BHTG cho BHTGVN chậm nhất vào ngày 20 của tháng đầu tiên quý thu phí. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết hạn nộp phí, BHGVN có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tính và nộp phí BHTG cho tổ chức tham gia BHTG, trong đó nêu rõ nội dung truy thu hoặc thoái thu (nếu có). Tổ chức tham gia BHTG có trách nhiệm nộp số phí còn thiếu, BHTGVN có trách nhiệm trả lại số phí nộp thừa (nếu có) trong thời hạn tối đa 15 ngày kể từ ngày có thông báo.
Phí BHTG được tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG theo mức 0,15%/năm, riêng đối với quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là 0,1%/năm. Đối với trường hợp BHTGVN vay đặc biệt từ NHNN để chi trả tiền gửi, Thống đốc NHNN xem xét, quyết định việc tăng phí BHTG trên cơ sở phương án tăng phí BHTG do BHTGVN đề xuất theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật BHTG năm 2025.
Cơ sở tính phí BHTG của quý thu phí là toàn bộ số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG của quý trước liền kề quý thu phí.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng bổ sung cách tính phí BHTG đối với các tổ chức tham gia BHTG trong các trường hợp: có quyết định đặt vào kiểm soát đặc biệt (KSĐB); có quyết định chấm dứt KSĐB để trở lại hoạt động bình thường; sau sáp nhập, hợp nhất; chấm dứt KSĐB và thực hiện sáp nhập, hợp nhất trong cùng quý; hình thành sau tách; hình thành sau chia.
Liên quan đến việc tạm hoãn nộp phí BHTG, khi nhận được quyết định đặt TCTD vào KSĐB, quyết định gia hạn thời hạn KSĐB, BHTGVN đề nghị tổ chức tham gia BHTG tính số tiền phí BHTG nộp thiếu, nộp chậm và khoản tiền chậm nộp (nếu có) đã phát sinh trước thời điểm tổ chức tham gia BHTG được đặt vào KSĐB. Chậm nhất 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của BHTGVN, tổ chức tham gia BHTG có trách nhiệm gửi văn bản cho BHTGVN về số tiền phí BHTG nộp thiếu, nộp chậm và khoản tiền chậm nộp (nếu có) đã phát sinh trước thời điểm tổ chức tham gia BHTG được đặt vào KSĐB.
Tổ chức tham gia BHTG được KSĐB có trách nhiệm xây dựng kế hoạch để hoàn trả đầy đủ khoản tiền được tạm hoãn trong phương án cơ cấu lại trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và gửi kế hoạch đã được phê duyệt tới BHTGVN.
Số tiền bảo hiểm được trả và thủ tục trả tiền bảo hiểm
Thông tư quy định, số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia BHTG bao gồm tiền gốc và tiền lãi tính đến thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, tối đa bằng hạn mức chi trả tiền bảo hiểm quy định tại Điều 22 Luật BHTG năm 2025. Số tiền bảo hiểm được trả trong trường hợp nhiều người sở hữu chung tiền gửi được BHTG thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật BHTG năm 2025.
Trường hợp người được BHTG có khoản nợ tại tổ chức tham gia BHTG, số tiền gửi được bảo hiểm là số tiền còn lại sau khi trừ khoản nợ (bao gồm nợ gốc và lãi còn phải thu) đó.
Liên quan đến thủ tục trả tiền bảo hiểm, Thông tư chỉ rõ, trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, tổ chức tham gia BHTG phải gửi BHTGVN hồ sơ đề nghị trả tiền bảo hiểm do người đại diện hợp pháp của tổ chức tham gia BHTG ký, bao gồm: văn bản đề nghị trả tiền bảo hiểm theo mẫu quy định của BHTGVN; danh sách người được BHTG theo mẫu quy định của BHTGVN.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị trả tiền bảo hiểm, BHTGVN tiến hành kiểm tra các chứng từ, sổ sách để xác định số tiền bảo hiểm phải chi trả. Tổ chức tham gia BHTG có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, chứng từ theo yêu cầu của BHTGVN để phục vụ việc kiểm tra, xác định số tiền chi trả. Trường hợp phát hiện dấu hiệu vi phạm vượt thẩm quyền xử lý, BHTGVN báo cáo, kiến nghị NHNN xem xét, kiểm tra, thanh tra, xử lý.
Căn cứ kết quả kiểm tra, BHTGVN lập danh sách người được trả tiền bảo hiểm và số tiền bảo hiểm trả cho từng người. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, BHTGVN phải có phương án trả tiền bảo hiểm cho người được BHTG; thông báo công khai về địa điểm, thời gian, phương thức trả tiền bảo hiểm trên ba số liên tiếp của một tờ báo trung ương, một tờ báo địa phương nơi đặt trụ sở chính, các chi nhánh của tổ chức tham gia BHTG và trên một báo điện tử của Việt Nam, trang thông tin điện tử của BHTGVN và các hình thức khác do BHTGVN quyết định.
Phương thức đầu tư, kiểm soát, quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư
Về phương thức đầu tư, Thông tư quy định việc BHTGVN thực hiện trực tiếp đầu tư đối với các hoạt động đầu tư theo quy định tại khoản 1, Điều 29 Luật BHTG năm 2025.
Trong đó, BHTGVN được ủy thác đầu tư đối với các hoạt động như: Mua, bán trái phiếu Chính phủ; mua, bán trái phiếu được phát hành bởi ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngân hàng thương mại cổ phần do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.
Trường hợp ủy thác đầu tư, BHTGVN xây dựng kế hoạch đầu tư hàng năm và được Hội đồng quản trị thông qua tối thiểu các nội dung:
- Sự cần thiết đầu tư bằng phương thức ủy thác;
- Nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn tổ chức nhận ủy thác đầu tư, trong đó tổ chức nhận ủy thác đầu tư là các công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại có chức năng nhận ủy thác đầu tư theo quy định của pháp luật có liên quan;
- Các nội dung ủy thác: phạm vi, sản phẩm ủy thác; quyền, nghĩa vụ, cam kết của các bên; thời hạn ủy thác; chi phí ủy thác; xử lý tranh chấp các nội dung khác;
- Phương án xử lý trong trường hợp tổ chức nhận ủy thác đầu tư không thực hiện được các nội dung ủy thác;
- Các biện pháp quản lý để đảm bảo kiểm soát hoạt động thuộc phạm vi ủy thác của bên nhận ủy thác;
- Các nội dung khác (nếu có).
Đối với vấn đề kiểm soát, quản lý rủi ro, Thông tư chỉ rõ, BHTGVN ban hành quy chế đầu tư, quy chế quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư, quy chế kiểm toán nội bộ theo quy định tại Điều 12 Thông tư này và quy chế khác theo yêu cầu kiểm soát, quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư của BHTGVN.
BHTGVN thực hiện đầu tư theo kế hoạch đầu tư hàng năm, phương án đầu tư 6 tháng đã được phê duyệt; thường xuyên đánh giá tình hình thực hiện để có biện pháp xử lý theo thẩm quyền và báo cáo Hội đồng quản trị điều chỉnh hoặc bổ sung (trong trường hợp cần thiết).
Bên cạnh đó, BHTGVN thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình thị trường; tình hình đầu tư; đối chiếu số tiền đầu tư, số tiền đến hạn thu hồi và số dư từng khoản đầu tư, đối tượng đầu tư để phục vụ việc kiểm soát, quản lý rủi ro.
BHTGVN phải có cơ chế kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tư để kịp thời phát hiện, đề xuất biện pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro; thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đối với hoạt động đầu tư theo quy định về chế độ tài chính đối với tổ chức BHTG.
Đồng thời, định kỳ hàng năm hoặc theo yêu cầu quản lý, BHTGVN thực hiện kiểm toán nội bộ hoạt động đầu tư để đánh giá việc tuân thủ quy định pháp luật, kế hoạch đầu tư hàng năm và các quy chế nghiệp vụ, quy trình liên quan đến hoạt động đầu tư.
Cung cấp thông tin và hoạt động kiểm tra của BHTGVN
Đối với nội dung cung cấp thông tin, Thông tư 04 quy định tổ chức tham gia BHTG có trách nhiệm thiết lập, cập nhật, lưu giữ đầy đủ, chính xác, đảm bảo tính trung thực của thông tin; BHTGVN đảm bảo tính an toàn, bảo mật thông tin, dữ liệu phù hợp với quy định của pháp luật. Định kỳ hàng tháng, quý, tổ chức tham gia BHTG cung cấp thông tin cho BHTGVN theo quy định. Trong trường hợp phục vụ công tác chuẩn bị trả tiền bảo hiểm hoặc các trường hợp khác liên quan đến việc trả tiền bảo hiểm theo yêu cầu của BHTGVN, tổ chức tham gia BHTG có trách nhiệm cung cấp danh sách chi tiết khách hàng và các dữ liệu liên quan theo quy định. Thời hạn cung cấp thông tin không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Tổ chức tham gia BHTG cung cấp thông tin về tiền gửi được bảo hiểm đột xuất theo yêu cầu bằng văn bản của BHTGVN. Trong trường hợp phục vụ công tác kiểm tra của BHTGVN, tổ chức tham gia BHTG có trách nhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu bằng văn bản của BHTGVN. Tổ chức tham gia BHTG có quyền từ chối cung cấp thông tin không liên quan đến nội dung kiểm tra. BHTGVN hướng dẫn tổ chức tham gia BHTG vể phương thức, hình thức cung cấp thông tin.
Liên quan đến công tác kiểm tra của BHTGVN, Thông tư quy định việc BHTGVN có trách nhiệm thực hiện kiểm tra tổ chức tham gia BHTG theo kế hoạch, nội dung của NHNN theo quy định tại khoản 10 Điều 14 Luật BHTG, cụ thể:
- BHTGVN xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung quy chế kiểm tra tổ chức tham gia BHTG; gửi NHNN có ý kiến trước khi quy chế này được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung, BHTGVN phải gửi NHNN, các tổ chức tham gia BHTG quy chế kiểm tra tổ chức tham gia BHTG;
- Quy chế kiểm tra tổ chức tham gia BHTG phải được Hội đồng quản trị phê duyệt và đảm bảo tối thiểu các nội dung: Nguyên tắc kiểm tra; quy trình thực hiện kiểm tra; trách nhiệm của Trưởng đoàn, thành viên đoàn kiểm tra, từng phòng, ban thuộc BHTGVN và bên có liên quan.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả kiểm tra, BHTGVN báo cáo kết quả kiểm tra chi nhánh ngân hàng nước ngoài thuộc đối tượng giám sát vĩ mô của NHNN chi nhánh khu vực cho NHNN chi nhánh khu vực đó; báo cáo kết quả kiểm tra QTDND cho NHNN chi nhánh khu vực nơi QTDND đặt trụ sở; báo cáo kết quả kiểm tra tổ chức tham gia BHTG khác cho thanh tra NHNN.
Thông tư cũng quy định BHTGVN có trách nhiệm phối hợp với NHNN trong việc xây dựng kế hoạch, nội dung kiểm tra tổ chức tham gia BHTG.
Trước ngày 30/1 hàng năm, NHNN giao kế hoạch, nội dung kiểm tra các tổ chức tham gia BHTG cho BHTGVN, bao gồm tối thiểu các nội dung sau: Danh sách tổ chức tham gia BHTG được kiểm tra; nội dung kiểm tra; thời kỳ kiểm tra, thời hạn báo cáo kết quả kiểm tra và hướng dẫn thực hiện kiểm tra (nếu cần thiết).
PV




