Khách hàng được tự chọn hạn mức giao dịch và thời gian chờ
Theo NHNN, cơ chế này áp dụng trên kênh trực tuyến bao gồm Internet Banking, Mobile Banking; áp dụng đối với khách hàng cá nhân.
Thời gian chờ được áp dụng đối với các giao dịch chuyển tiền trực tuyến trong nước có giá trị từ hạn mức khách hàng đã đăng ký trở lên. Điều kiện là tài khoản thụ hưởng chưa từng nhận số tiền có giá trị bằng hoặc vượt hạn mức đã đăng ký từ khách hàng đó trong vòng 1 năm liền kề trước đó kể từ thời điểm khách hàng thực hiện giao dịch. Thời gian chờ là thời gian giao dịch của khách hàng chưa được chuyển đến tài khoản người thụ hưởng.
Theo văn bản 6190, hạn mức được xác định theo từng giao dịch trên từng tài khoản thanh toán riêng biệt của khách hàng. Thời gian chờ được tính từ thời điểm khách hàng thực hiện giao dịch. Khách hàng được tự lựa chọn hạn mức giao dịch áp dụng thời gian chờ và thời gian chờ (tối thiểu 24 giờ). Trường hợp khách hàng không đăng ký dịch vụ, ngân hàng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ mặc định áp dụng hạn mức là 400 triệu đồng và thời gian chờ là tối thiểu 24 giờ.
Để dễ hiểu, nếu khách hàng đăng ký hạn mức là 100 triệu đồng và thời gian chờ là 24 giờ, khi thực hiện 1 giao dịch bằng hoặc vượt quá mức này tới tài khoản của người thụ hưởng chưa từng nhận khoản tiền 100 triệu đồng từ bạn trong vòng 1 năm liền kề trước đó, giao dịch sẽ được áp dụng thời gian chờ là 24 giờ. Trong trường hợp cần chuyển khoản tiền có giá trị lớn hơn 100 triệu đồng tới tài khoản của người chưa từng nhận khoản tiền đó từ bạn trong vòng 1 năm, khách hàng có thể chủ động điều chỉnh hạn mức trên ứng dụng ngân hàng.
Việc lựa chọn hạn mức giao dịch áp dụng thời gian chờ phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng và mức độ chấp nhận rủi ro của từng khách hàng. Theo ông Phạm Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Thanh toán, NHNN, NHNN không quy định một mức hạn mức chung phù hợp với tất cả mọi người. Theo đó, khách hàng có thể cân nhắc một số yếu tố như sau:
Thứ nhất, nhu cầu giao dịch thực tế
Khách hàng nên cân nhắc giá trị và tần suất các giao dịch chuyển tiền của mình, đặc biệt là các giao dịch đến tài khoản thụ hưởng mới. Nếu ít phát sinh các giao dịch có giá trị lớn đến người thụ hưởng mới, khách hàng có thể lựa chọn hạn mức phù hợp với nhu cầu chi tiêu thông thường để tăng phạm vi các giao dịch được bảo vệ bởi cơ chế thời gian chờ. Ngược lại, những khách hàng thường xuyên phát sinh các giao dịch có giá trị lớn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc các nhu cầu chính đáng khác có thể lựa chọn hạn mức cao hơn để bảo đảm việc thanh toán không bị gián đoạn.
Thứ hai, mức độ am hiểu công nghệ và khả năng tự bảo vệ
Người cao tuổi, người ít sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử hoặc những người có nguy cơ cao trở thành mục tiêu của các đối tượng lừa đảo nên cân nhắc lựa chọn hạn mức phù hợp để tăng cường lớp bảo vệ đối với các giao dịch có giá trị lớn. Bên cạnh đó, thành viên trong gia đình có thể hướng dẫn, hỗ trợ người thân thiết lập và quản lý các tính năng bảo vệ tài khoản.
Thứ ba, mục đích sử dụng của từng tài khoản thanh toán
Khách hàng sử dụng nhiều tài khoản thanh toán nên cân nhắc thiết lập các hạn mức khác nhau phù hợp với mục đích sử dụng của từng tài khoản. Chẳng hạn, tài khoản phục vụ chi tiêu thường xuyên có thể thiết lập hạn mức phù hợp với nhu cầu thanh toán hàng ngày; trong khi tài khoản chủ yếu dùng để tích lũy hoặc quản lý nguồn tiền lớn nên lựa chọn hạn mức thận trọng hơn nhằm tăng cường khả năng kiểm soát rủi ro.
Giúp khách hàng cân bằng giữa sự thuận tiện trong thanh toán và an toàn tài sản
Theo ông Phạm Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Thanh toán, NHNN, điểm khác biệt của quy định này so với cơ chế giao dịch hiện nay là tăng cường tính chủ động của khách hàng cá nhân trong việc phòng ngừa rủi ro lừa đảo đối với các giao dịch chuyển tiền trực tuyến. Theo đó, quy định mới cho phép khách hàng chủ động lựa chọn hạn mức giao dịch và thời gian chờ phù hợp với nhu cầu sử dụng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình, qua đó bổ sung một lớp bảo vệ đối với các giao dịch có giá trị lớn hoặc tiềm ẩn rủi ro. Hạn mức không phải là cố định mà có thể được điều chỉnh theo nhu cầu sử dụng trong từng thời kỳ. Mục tiêu của chính sách là giúp khách hàng cân bằng giữa sự thuận tiện trong thanh toán và an toàn tài sản, đồng thời có thêm thời gian để phát hiện, ngăn chặn các giao dịch có dấu hiệu gian lận, lừa đảo trước khi tiền được chuyển đến người thụ hưởng.
Quy định này nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình thanh toán và góp phần ngăn ngừa các hành vi lừa đảo, gian lận. Bởi lẽ thời gian qua, nhiều người dân bị các đối tượng lừa đảo thao túng tâm lý, đã tự thực hiện chuyển tiền cho các đối tượng mạo danh. Khi phát hiện bị lừa, giao dịch thường đã hoàn tất nên không thể ngăn chặn.
Việc có thêm khoảng thời gian chờ sẽ giúp khách hàng thoát khỏi trạng thái bị tác động tâm lý, bình tĩnh cân nhắc lại quyết định giao dịch, kiểm tra thông tin, trao đổi với người thân hoặc liên hệ ngân hàng khi phát hiện dấu hiệu bất thường, qua đó giảm nguy cơ bị lừa đảo và tạo điều kiện để ngân hàng hỗ trợ xử lý kịp thời khi cần thiết.
Có thể khẳng định, quy định này không thay thế các biện pháp bảo đảm an toàn giao dịch hiện hành như xác thực sinh trắc học, xác thực đa yếu tố, OTP, giám sát giao dịch bất thường hay cảnh báo rủi ro của ngân hàng, mà bổ sung một lớp bảo vệ dựa trên sự chủ động của chính khách hàng.
Đối với các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Văn bản 6190 yêu cầu về nguyên tắc và quy trình thực hiện, cụ thể:
Thứ nhất, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm xây dựng quy trình nội bộ và hướng dẫn khách hàng thực hiện đăng ký hạn mức giao dịch áp dụng thời gian chờ.
Thứ hai, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thỏa thuận với khách hàng về việc cung cấp dịch vụ này, đồng thời thông báo và công khai minh bạch về các điều khoản, điều kiện dịch vụ (bao gồm phạm vi, đối tượng áp dụng, hạn mức, quyền và trách nhiệm của các bên...) cho khách hàng được biết. Khách hàng sẽ truy cập vào hệ thống để tự lựa chọn hạn mức áp dụng và thời gian chờ phù hợp.
Thứ ba, đối với mỗi giao dịch thuộc trường hợp áp dụng thời gian chờ, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện các yêu cầu sau:
(i) Thông báo công khai, rõ ràng và dễ nhận biết cho khách hàng trước khi giao dịch được thực hiện.
(ii) Triển khai các biện pháp và cơ chế kỹ thuật để xác nhận việc khách hàng đã đọc, hiểu và đồng ý áp dụng thời gian chờ đối với giao dịch đó. Hình thức xác nhận phải tuân thủ quy định tại Điều 11 Thông tư số 50/2024/TT-NHNN (đã được sửa đổi, bổ sung).
(iii) Lưu trữ nhật ký giao dịch theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng nhằm đảm bảo khả năng tra cứu thông tin liên quan, phục vụ công tác giải quyết tra soát, khiếu nại, tranh chấp hoặc cung cấp thông tin khi có yêu cầu từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thanh Thủy




