Từ đầu tháng 2/2026 đến nay, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động tiền gửi nhằm thu hút nguồn vốn phục vụ nhu cầu tín dụng.
Lãi suất tiền gửi chạm ngưỡng 9%
Từ đầu tháng 3/2026, nhiều ngân hàng như Cake by VPBank, VPBank, Sacombank, VietBank, MB, SHB, NCB và Techcombank đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động.
Mức lãi suất huy động cao nhất hiện nay tại PVcomBank là 9%/năm, tuy nhiên áp dụng với khoản tiền gửi từ 2.000 tỷ đồng trở lên với kỳ hạn 12-13 tháng. Trước đó, MSB cũng đã đưa ra mức lãi suất 9%/năm cho khoản tiền gửi từ 500 tỷ đồng trở lên với kỳ hạn 13 tháng.
Tại Ngân hàng số Cake by VPBank, khách hàng gửi tiết kiệm lần đầu sẽ được cộng thêm lãi suất 0,9%/năm, qua đó lãi suất thực nhận lên tới 8,4%/năm ngay từ kỳ hạn 6 tháng.
Ở kỳ hạn 3 tháng, VIB, VPBank, BVBank, Nam A Bank đang dẫn đầu thị trường với mức lãi suất lên tới 4,75%/năm.
Đối với các kỳ hạn dài, nhiều ngân hàng hiện niêm yết mức lãi suất trên 6,5%/năm mà không yêu cầu số tiền gửi tối thiểu. Chẳng hạn, Vikki Bank áp dụng lãi suất 6,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng; 6,6%/năm và 6,7%/năm lần lượt đối với các kỳ hạn 12 tháng và 13 tháng. Cake by VPBank niêm yết lãi suất 7,3%/năm đối với kỳ hạn 6 tháng và 7,1%/năm cho các kỳ hạn từ 7–36 tháng...
Đáng chú ý, gửi tiết kiệm online thường được cộng thêm từ 0,1% - 0,3%/năm so với gửi tại quầy. Một số ngân hàng yêu cầu số tiền gửi lớn (ví dụ trên 3 tỷ đồng) để hưởng mức lãi suất ưu đãi cao nhất.
Theo các chuyên gia, lãi suất tiền gửi tăng mạnh sau Tết Nguyên đán 2026 chủ yếu do ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn để phục vụ nhu cầu tín dụng đang tăng mạnh ngay đầu năm.
Bên cạnh đó, trước Tết, một lượng lớn tiền mặt đã được người dân, doanh nghiệp rút ra khỏi hệ thống ngân hàng để phục vụ chi tiêu trước Tết. Sau Tết, dòng tiền nhàn rỗi cần thời gian quay trở lại, buộc các ngân hàng tăng lãi suất để thu hút nhanh dòng tiền này.
Ngoài ra, trong bối cảnh nền kinh tế phục hồi mạnh với mục tiêu tăng trưởng GDP cao và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp tăng vọt, ngân hàng phải đẩy mạnh huy động tiền gửi từ dân cư thông qua các mức lãi suất hấp dẫn và chương trình khuyến mại.
Đồng thời, để giữ chân khách hàng trước sự hấp dẫn của kênh trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán đầu năm, lãi suất tiết kiệm cũng được điều chỉnh theo hướng cạnh tranh hơn.
Mặt khác, theo yếu tố mùa vụ và tâm lý khách hàng, các ngân hàng thường tận dụng dịp sau Tết - thời điểm người dân có tiền nhàn rỗi từ lì xì, thưởng Tết và thu nhập kinh doanh để tung ra các chương trình ưu đãi, lì xì kèm lãi suất cao nhằm "mở hàng" nguồn vốn cho cả năm.
Đề xuất nâng hạn mức BHTG – củng cố niềm tin người gửi tiền
Với người dân, kênh gửi tiết kiệm vẫn là lựa chọn an toàn, vừa được hưởng lãi cao vừa được BHTG. Hiện NHNN đang xây dựng Thông tư quy định về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm.
Theo đó, tại Điều 3 của Dự thảo Thông tư quy định hạn mức chi trả tiền bảo hiểm là: “Số tiền tối đa tổ chức BHTG trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật BHTG (gồm cả tiền gốc và tiền lãi) của một người tại một tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng)”. Mức này gấp gần 3 lần so với mức 125 triệu đồng hiện hành, nhằm bảo vệ người gửi tiền tốt hơn, tăng niềm tin vào hệ thống ngân hàng và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Theo cơ quan soạn thảo, kinh tế xã hội và hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) phát triển nhanh, nhưng việc điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG chưa bắt kịp biến động thị trường.
Trong 25 năm qua, hạn mức chi trả mới có 3 đợt điều chỉnh để tăng hơn 4 lần, từ 30 triệu đồng lên 125 triệu như hiện hành.
Theo NHNN, việc tăng hạn mức gần 3 lần như đề xuất không quá đột biến. Điều chỉnh này được đánh giá cần thiết, giúp tăng niềm tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng.
Tính theo hạn mức 350 triệu đồng, tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ đạt khoảng 93,7%, trong khi theo hạn mức 125 triệu đồng là 87,6%. Con số vẫn thấp hơn mức trung bình toàn cầu (98%), nhưng nằm trong khung tối thiểu theo khuyến nghị của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) là 90-95% và phù hợp với Chiến lược phát triển BHTG là 92-95%. Tỷ lệ hạn mức chi trả trên GDP bình quân đầu người cũng tăng từ 1 lần lên 2,8 lần, tiệm cận xu hướng toàn cầu là 3,3 lần.
Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát
Trước diễn biến lãi suất tiền gửi tăng mạnh những tháng đầu năm, các chuyên gia dự báo áp lực thanh khoản sẽ dần hạ nhiệt trong quý II/2026 khi các công cụ điều tiết của NHNN phát huy hiệu quả.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN chỉ đạo TCTD tiếp tục duy trì công bố lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân. Nhờ đó, so với cuối năm 2025, lãi suất tiền gửi VND bình quân của các giao dịch phát sinh mới đến cuối tháng 1/2026 ở mức 5,31%/năm, tăng 0,08%/năm; và tính đến ngày 20/02/2026 ở mức 5,15%/năm, giảm 0,09%/năm; lãi suất cho vay VND bình quân của các giao dịch phát sinh mới đến cuối tháng 1/2026 giảm 0,41%/năm.Tại Họp báo Chính phủ tháng 2/2026 mới đây, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, trong thời gian tới, NHNN sẽ theo sát tình hình để điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, cụ thể:
Thứ nhất, điều hành nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, bám sát mục tiêu chính sách tiền tệ. Chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ chính sách tiền tệ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD;
Thứ hai, điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ; tiếp tục yêu cầu các TCTD thực hiện nghiêm việc công khai lãi suất cho vay;
Thứ ba, tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường.
Thứ tư, điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến vĩ mô, thị trường tiền tệ, đồng thời chỉ đạo các TCTD: Tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế…; Kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; Tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục và áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
Thanh Thủy




