
Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 gồm 8 chương 41 Điều, quy định đầy đủ về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, mục tiêu, nguyên tắc BHTG, trách nhiệm quản lý nhà nước về BHTG; quyền và nghĩa vụ của người gửi tiền, tổ chức tham gia BHTG, tổ chức BHTG; các hoạt động BHTG như cấp, thu hồi Chứng nhận tham gia BHTG, thu phí BHTG, trả tiền bảo hiểm; các quy định liên quan đến tổ chức BHTG như cơ cấu tổ chức, quản lý nguồn vốn hoạt động, chế độ tài chính, hoạt động đầu tư, quản lý và đầu tư vốn Nhà nước; các quy định về thông tin báo cáo; tham gia xử lý tổ chức tín dụng (TCTD)... Một trong những quy định quan trọng tại Luật BHTG là nâng cao năng lực và vai trò của tổ chức BHTG, thể hiện cụ thể qua các nội dung sau:
Thứ nhất, về cơ chế chi trả sớm
Luật quy định tổ chức BHTG trả tiền bảo hiểm trong 3 trường hợp. Ngoài thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm tại khoản 1 Điều 21 Luật BHTG (sau khi phương án phá sản TCTD được phê duyệt), Luật BHTG bổ sung thêm 2 thời điểm (tại khoản 2, khoản 3 Điều 21) là: (i) Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có văn bản đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của TCTD được kiểm soát đặc biệt và tổ chức đó có lỗ lũy kế lớn hơn 100% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất; (ii) NHNN có văn bản thông báo cho tổ chức BHTG về việc trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật BHTG. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm trong hai trường hợp này sớm hơn so với quy định trước đây.
Quy định về chi trả sớm trong Luật BHTG đã làm nổi bật vai trò ngày càng chủ động của tổ chức BHTG, qua đó, tổ chức BHTG không chỉ thực hiện chức năng chi trả sau khi TCTD bị phá sản, mà đã tham gia trực tiếp vào quá trình xử lý sớm rủi ro, bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền. Việc người gửi tiền được tiếp cận nhanh với khoản tiền gửi được bảo hiểm giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế, ổn định đời sống, đồng thời củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng.
Đồng thời, cơ chế chi trả sớm cũng thể hiện vai trò của tổ chức BHTG trong việc hỗ trợ NHNN thực hiện chức năng quản lý, giám sát và xử lý TCTD yếu kém, góp phần giảm áp lực phải áp dụng các biện pháp hỗ trợ đặc biệt như cho vay đặc biệt hoặc sử dụng ngân sách Nhà nước. Như vậy, chi trả sớm không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ cá nhân người gửi tiền, mà còn khẳng định vị thế của tổ chức BHTG trong việc tham gia xử lý rủi ro hệ thống tài chính – ngân hàng.
Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTG
Luật quy định 16 quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTG, trong đó có những hoạt động nghiệp vụ nổi bật như cấp, cấp lại, thu hồi, tạm thu hồi Chứng nhận tham gia BHTG; tính, thu phí BHTG; trả tiền bảo hiểm cho người được BHTG; theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về BHTG của tổ chức tham gia BHTG; kiến nghị NHNN xử lý hành vi vi phạm quy định của pháp luật về BHTG; thực hiện kiểm tra tổ chức tham gia BHTG theo kế hoạch, nội dung do NHNN giao; tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin về tổ chức tham gia BHTG nhằm phát hiện và kiến nghị NHNN xử lý kịp thời vi phạm quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống TCTD; tham gia vào quá trình can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, xử lý TCTD (tham gia đánh giá tính khả thi phương án phục hồi, phương án sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp, tham gia xây dựng phương án phá sản của TCTD được kiểm soát đặc biệt, cho vay đặc biệt tổ chức tham gia BHTG, mua trái phiếu dài hạn của TCTD nhận chuyển giao bắt buộc, cử người giữ chức danh quản lý, điều hành của quỹ tín dụng nhân dân được kiểm soát đặc biệt; thực hiện công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật và hoạt động về BHTG; tổ chức đào tạo, phổ biến kiến thức về BHTG và các nội dung liên quan cho tổ chức, cá nhân có liên quan.
Từ các quyền và nghĩa vụ nêu trên cho thấy vai trò quan trọng của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền và góp phần bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống các TCTD. Không chỉ thực hiện chức năng cốt lõi là thu phí và chi trả tiền bảo hiểm, tổ chức BHTG còn tham gia vào quá trình phòng ngừa và xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng thông qua việc theo dõi, kiểm tra, phân tích thông tin và kiến nghị NHNN xử lý kịp thời các vi phạm. Đặc biệt, vai trò của tổ chức BHTG được thể hiện rõ nét trong các giai đoạn can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt và xử lý TCTD yếu kém, qua đó góp phần hạn chế đổ vỡ dây chuyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, đào tạo và phổ biến kiến thức về BHTG giúp nâng cao nhận thức của công chúng, củng cố niềm tin vào hệ thống tài chính – ngân hàng. Như vậy, tổ chức BHTG không chỉ là “lá chắn” bảo vệ người gửi tiền mà còn góp phần hỗ trợ NHNN trong việc duy trì sự an toàn và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.
Thứ ba, về một số nội dung mới trong nhiệm vụ của tổ chức BHTG
Một là, Luật BHTG năm 2025 quy định tổ chức BHTG cấp Chứng nhận tham gia BHTG cho tổ chức tham gia BHTG sau khi NHNN cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của TCTD, Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đây là một quy định mới, theo đó việc cấp, thu hồi chứng nhận tham gia BHTG sẽ được thực hiện theo hướng đơn giản hóa quy trình, giảm thủ tục hành chính, trao quyền chủ động cho tổ chức BHTG, qua đó đẩy nhanh thời gian tiến hành thủ tục cấp Chứng nhận, tiết kiệm chi phí cho tổ chức tham gia BHTG và tổ chức BHTG.
Hai là, tổ chức BHTG được vay đặc biệt với lãi suất 0%, không có tài sản bảo đảm từ NHNN trong trường hợp quy định tại Điều 21 của Luật này và khi số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm. Tổ chức BHTG được xây dựng phương án tăng phí BHTG để bù đắp phần vay đặc biệt từ NHNN, trong đó tối thiểu có nội dung về thời hạn tăng phí, mức tăng phí và gửi NHNN xem xét, quyết định. Như vậy, việc tăng phí chỉ áp dụng trong những tình huống đặc biệt, tạo cơ sở cho tổ chức BHTG có điều kiện thuận lợi hơn trong việc lập kế hoạch tài chính, cân đối nguồn vốn; bảo đảm khả năng chi trả cho người gửi tiền đồng thời cũng đảm bảo nguồn tích lũy nhanh hơn để trả lại nguồn tiền vay từ NHNN.
Bà là, Luật bổ sung nhiệm vụ của tổ chức BHTG trong việc thực hiện kiểm tra tổ chức tham gia BHTG theo kế hoạch, nội dung do NHNN giao. Việc bổ sung quy định giao tổ chức BHTG hỗ trợ NHNN trong công tác kiểm tra là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh tinh gọn bộ máy hiện nay, đồng thời cũng là để giảm tải cho NHNN, hướng tới nâng cao hiệu quả giám sát, bảo vệ an toàn hệ thống và quyền lợi chính đáng của người gửi tiền.
Bốn là, ngoài quy định về việc tổ chức BHTG cho vay đặc biệt đối với ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, tổ chức tài chính vi mô được kiểm soát đặc biệt để thực hiện phương án phục hồi; cho vay đặc biệt đối với ngân hàng thương mại được kiểm soát đặc biệt để thực hiện phương án chuyển giao bắt buộc tương tự như Luật Các TCTD, Luật BHTG quy định thu hẹp hơn trong trường hợp TCTD bị rút tiền hàng loạt. Theo đó, Luật BHTG quy định tổ chức BHTG cho vay đặc biệt đối với ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô được can thiệp sớm và bị rút tiền hàng loạt; được kiểm soát đặc biệt và bị rút tiền hàng loạt để trả tiền gửi cho người gửi tiền. Thông qua cơ chế này, tổ chức BHTG trở thành công cụ hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG, góp phần trấn an tâm lý người gửi tiền, hạn chế khủng hoảng và duy trì niềm tin vào hệ thống các TCTD. Đồng thời, việc thu hẹp phạm vi cho vay đặc biệt cũng khẳng định vai trò của tổ chức BHTG trong việc phối hợp chặt chẽ với NHNN, bảo đảm kỷ luật thị trường và an toàn quỹ BHTG, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý rủi ro trong hệ thống ngân hàng.
Thứ tư, về một số nội dung quy định để nâng cao năng lực của tổ chức BHTG
Một là, Luật BHTG quy định cụ thể hơn về nguồn vốn hoạt động của tổ chức BHTG. Quy định rõ ràng, minh bạch hơn về cơ cấu các quỹ, bao gồm Quỹ dự phòng nghiệp vụ, Quỹ đầu tư phát triển và Quỹ dự phòng tài chính, đồng thời xác định cụ thể nguồn hình thành và mục đích sử dụng của từng quỹ. Điều này khắc phục sự thiếu chi tiết của quy định cũ, giúp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và bảo đảm an toàn nguồn lực của tổ chức BHTG.
Hai là, Luật cho phép tổ chức BHTG mở rộng danh mục đầu tư. Ngoài danh mục đầu tư được kế thừa từ Luật BHTG năm 2012 là mua trái phiếu Chính phủ, tín phiếu NHNN, gửi tiền tại NHNN, Luật BHTG mở rộng thêm mua, bán trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi được phát hành bởi ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngân hàng thương mại cổ phần do doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; gửi tiền tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngân hàng thương mại cổ phần do doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; hoạt động đầu tư khác theo quy định của Chính phủ. Đây là một hướng đi đúng để tổ chức BHTG có thêm nguồn lực không chỉ để thực hiện tốt nhiệm vụ chính là trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền mà còn tham gia có hiệu quả hơn vào quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD.
Ba là, quy định tại Luật BHTG về chế độ tài chính, hạch toán kế toán và kiểm toán có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường tính công khai, minh bạch và chuẩn mực trong hoạt động của tổ chức BHTG. Việc quy định khung về chế độ tài chính, hạch toán kế toán và kiểm toán tại Dự thảo Luật BHTG nhằm khẳng định tính riêng có trong hoạt động của tổ chức BHTG là tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Bốn là, việc xác lập rõ nguyên tắc ghi nhận thu chi theo chuẩn mực kế toán, cơ chế phân phối chênh lệch thu chi và quy định thứ tự sử dụng các quỹ giúp bảo đảm tổ chức BHTG hoạt động an toàn, bền vững, đúng chức năng bảo vệ người gửi tiền. Ngoài ra, quy định tại dự thảo Luật về việc Báo cáo tài chính hằng năm của tổ chức BHTG phải được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán và xác nhận kế thừa quy định tại Luật BHTG năm 2012; nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính của tổ chức BHTG.
Năm là, Luật BHTG quy định về nguyên tắc quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại tổ chức BHTG; đại diện chủ sở hữu nhà nước; giao Chính phủ quy định về quản lý và đầu tư vốn, giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại tổ chức BHTG. Luật xác định cụ thể nguyên tắc quản lý vốn nhà nước, bảo đảm việc sử dụng vốn phải đúng mục đích, an toàn, hiệu quả và gắn với chức năng bảo vệ người gửi tiền. Đồng thời, Luật cũng quy định rõ đại diện chủ sở hữu nhà nước tại tổ chức BHTG, qua đó làm rõ trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế giám sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Bên cạnh đó, việc giao Chính phủ quy định chi tiết về quản lý, đầu tư, giám sát và đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước giúp bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế, đồng thời góp phần nâng cao năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động của tổ chức BHTG trong việc thực hiện chức năng bảo vệ người gửi tiền và hỗ trợ ổn định hệ thống ngân hàng.
Có thể khẳng định, đã có những quy định mới tạo hành lang pháp lý vững chắc nhằm nâng cao năng lực, vị thế và vai trò của tổ chức BHTG trong hệ thống tài chính – ngân hàng. Việc mở rộng quyền hạn, bổ sung nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế tài chính và đầu tư, cũng như tăng cường sự tham gia của tổ chức BHTG vào quá trình can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt và xử lý TCTD yếu kém đã giúp tổ chức BHTG không chỉ thực hiện tốt chức năng bảo vệ người gửi tiền mà còn trở thành một chủ thể quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro, hạn chế đổ vỡ dây chuyền và duy trì niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh kinh tế – tài chính biến động nhanh, phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro, các quy định của Luật BHTG góp phần nâng cao khả năng ứng phó, tăng tính chủ động và hiệu quả của tổ chức BHTG, qua đó hỗ trợ tích cực cho NHNN trong quản lý, giám sát và cơ cấu lại hệ thống các TCTD. Để các quy định của Luật phát huy hiệu quả trong thực tiễn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức BHTG và các TCTD, hướng tới mục tiêu chung là xây dựng một hệ thống tài chính – ngân hàng an toàn, ổn định và phát triển bền vững.
Lê Hùng Cường - Phó Tổng giám đốc BHTGVN




