|
1. HỆ THỐNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
1.1. Bảo hiểm tiền gửi và Hệ thống Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam
1.1.1. Bảo hiểm tiền gửi là gì?
Bảo hiểm tiền
gửi (BHTG) là cam kết công khai của tổ chức BHTG
đối với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền
về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi được bảo
hiểm cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia
BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh
toán cho người gửi tiền.
1.1.2. Vì sao phải thành lập Bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam?
Cùng với công
cuộc đổi mới của đất nước bắt đầu vào năm 1986,
hệ thống ngân hàng Việt Nam đã triển khai kế
hoạch đổi mới từ năm 1988. Sau quá trình thực
hiện đổi mới, hoạt động ngân hàng đã đạt được
trình độ phát triển nhất định. Số lượng các tổ
chức tín dụng tăng, hoạt động ngân hàng dần thể
hiện tính thị trường, tính cạnh tranh trong huy
động tiền gửi và cho vay càng trở lên quyết
liệt; yếu tố rủi ro trong hoạt động ngân hàng
cũng trở nên phức tạp và cần có giải pháp phòng
ngừa kịp thời.
Cuộc khủng hoảng
tài chính, tiền tệ ở khu vực từ đầu năm 1997
cùng với tốc độ mở cửa và hội nhập trong khu vực
và trên thế giới đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động của hệ thống tài chính- ngân hàng Việt Nam.
Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải gây dựng
và củng cố lòng tin của công chúng vào hoạt động
ngân hàng. Về mặt pháp lý, Luật các tổ chức tín
dụng năm 1997, tại Điều 17, khoản 1 cũng đặt ra
quy định phải thành lập tổ chức BHTG để bảo vệ
quyền lợi của người gửi tiền.
Trong bối cảnh
đó tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, tên giao
dịch quốc tế Deposit Insurance of Vietnam (DIV)
đã được thành lập theo Quyết định số
218/1999/QĐ-TTg, ngày 09/11/1999 của Thủ tướng
Chính phủ và đi vào hoạt động từ ngày 07/7/2000.
Đây là tổ chức duy nhất ở Việt Nam triển khai
hoạt động BHTG nhằm bảo vệ quyền lợi của người
gửi tiền, hỗ trợ các tổ chức tín dụng gặp khó
khăn, kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt
động ngân hàng.
1.1.3. Vị trí, vai trò của DIV?
DIV là một định
chế tài chính đặc biệt trong hệ thống tài chính
quốc gia, cùng với các cơ quan giám sát tài
chính quốc gia thực hiện nhiệm vụ kiểm soát hợp
nhất liên quan tới rủi ro quốc gia, bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của người gửi tiền, góp phần ổn
định hệ thống tài chính ngân hàng.
Vai trò nổi bật
của hoạt động BHTG là tác động thúc đẩy nâng cao
chất lượng hoạt động ngân hàng hướng tới thu hút
tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong cộng
đồng xã hội trên cơ sở các bên cùng có lợi.
Đối với người
gửi tiền, hoạt động của DIV góp phần củng cố
niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân
hàng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
hàng chục triệu người gửi tiền.
Đối với hệ thống
ngân hàng, DIV tạo điều kiện thuận lợi cho hệ
thống ngân hàng phát triển lành mạnh, an toàn và
thúc đẩy huy động tiền gửi cho đầu tư phát
triển. Từ đó tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế
đất nước phát triển bền vững.
1.1.4. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của DIV
?
- Chức năng:
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi
tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ
chức tín dụng, đảm bảo sự phát triển an toàn
lành mạnh hoạt động ngân hàng.
- Nhiệm vụ và
quyền hạn:
+ Cấp và thu
hồi Chứng nhận BHTG;
+ Thu phí bảo
hiểm tiền gửi của tổ chức tham gia BHTG theo quy
định;
+ Chi trả các
khoản tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền
trong phạm vi mức bảo hiểm tối đa theo quy định;
+ Giám sát và
kiểm tra việc chấp hành các quy định tại Nghị
định của Chính phủ về BHTG và các quy định về an
toàn trong hoạt động của các tổ chức tham gia
BHTG;
+ Hỗ trợ tài
chính cho tổ chức tham gia BHTG dưới các hình
thức cho vay, bảo lãnh, mua lại nợ và các hình
thức khác phù hợp với quy định của pháp luật;
+ Tham gia quản
lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG
bị giải thể, phá sản;
+ Vay vốn của
các tổ chức tín dụng và tổ chức khác để giải
quyết khó khăn tạm thời về vốn hoạt động. Trong
trường hợp cần thiết việc vay vốn này được thực
hiện với sự bảo lãnh của Chính phủ. Trong trường
hợp đặc biệt, khi gặp khó khăn về vốn hoạt động,
được vay hoặc tiếp nhận nguồn vốn hỗ trợ đặc
biệt của Nhà nước. Tiếp nhận các nguồn tài trợ
của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để
tăng cường năng lực hoạt động;
+ Được mua trái
phiếu Chính phủ; trái phiếu, tín phiếu Ngân hàng
Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng Nhà nước; gửi
tiền tại kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước
hoặc tổ chức tín dụng Nhà nước nhằm đảm bảo an
toàn vốn, bảo toàn vốn, bù đắp chi phí;
+ Kiến nghị với
Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền về việc
xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chủ trương, chính
sách về BHTG;
+ Tuyên truyền
về BHTG đối với công chúng; tổ chức tập huấn,
đào tạo và tư vấn về các nghiệp vụ liên quan đến
BHTG;
+ Hợp tác với
các tổ chức trong và ngoài nước nhằm tăng cường
năng lực hoạt động của DIV và của các tổ chức
tham gia BHTG;
+ Thực hiện các
nhiệm vụ khác khi được Thủ tướng Chính phủ giao.
1.1.5. DIV mang lại lợi ích gì cho các tổ
chức tham gia BHTG?
- DIV góp phần
củng cố niềm tin của người gửi tiền đối với tổ
chức tham gia BHTG, góp phần thúc đẩy việc huy
động tiền gửi cho đầu tư phát triển, tăng cường
uy tín của các tổ chức tham gia BHTG và tạo điều
kiện cho hệ thống ngân hàng phát triển bền vững.
- Thông qua việc
thực hiện nhiệm vụ giám sát an toàn tài chính-
ngân hàng quốc gia, thực hiện kiểm soát rủi ro
đối với các tổ chức tham gia BHTG bằng các hoạt
động giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ, DIV góp
phần thúc đẩy quá trình củng cố, chấn chỉnh và
nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức tham gia
BHTG.
-
DIV thực
hiện nghiệp vụ hỗ trợ tài chính đối với các tổ
chức tham gia BHTG có khó khăn tạm thời về tài
chính tránh nguy cơ đổ vỡ gây ra những ảnh hưởng
nghiêm trọng, sâu rộng đến sự an toàn của hệ
thống tài chính- ngân hàng và sự ổn định chính
trị, kinh tế- xã hội.
1.1.6. Quan hệ của DIV với các tổ chức tham gia
BHTG
Quan hệ của DIV
với các tổ chức tham gia BHTG được thiết lập
trên cơ sở thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy
định của Luật các tổ chức tín dụng, Nghị định
của Chính phủ về BHTG, Điều lệ về tổ chức và
hoạt động của DIV và các quy định khác của pháp
luật có liên quan; thúc đẩy và hỗ trợ nhau trong
việc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật nghiệp
vụ trong quản lý và kinh doanh.
1.2. Quản trị và điều hành của DIV
1.2.1. Hội đồng quản trị
Hội đồng quản
trị của DIV thực hiện chức năng quản lý và chịu
trách nhiệm về hoạt động hàng năm của DIV theo
quy định tại Điều lệ về tổ chức và hoạt động của
DIV đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Hội đồng quản
trị của DIV có 5 thành viên, trong đó có 3 thành
viên chuyên trách là Chủ tịch, một ủy viên kiêm
Tổng giám đốc, một ủy viên kiêm Trưởng Ban kiểm
soát; hai ủy viên kiêm nhiệm là Thứ trưởng Bộ
Tài chính và Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các ủy viên Hội đồng
quản trị do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo
đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Bộ
trưởng Bộ Nội vụ.
1.2.2. Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc
- Tổng giám đốc
là đại diện pháp nhân của DIV, chịu trách nhiệm
trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về
điều hành hoạt động của DIV.
- Giúp Tổng giám
đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động
của DIV có một số Phó tổng giám đốc, việc bổ
nhiệm, miễn nhiệm Phó tổng giám đốc do Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước quyết định theo đề nghị của
Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Văn phòng và
các ban, phòng chuyên môn nghiệp vụ của DIV có
chức năng tham mưu, giúp Hội đồng quản trị và
Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành công
việc.
1.2.3. Ban Kiểm soát
Ban Kiểm soát
chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị kiểm
soát toàn bộ hoạt động của DIV.
Ban Kiểm soát có
3 thành viên chuyên trách và một số thành viên
kiêm nhiệm, trong đó có một thành viên là Trưởng
ban. Các thành viên Ban kiểm soát (ngoài Trưởng
ban) do Chủ tịch Hội đồng quản trị bổ nhiệm,
miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Trưởng Ban
kiểm soát.
1.2.4. Chi nhánh, Văn phòng đại diện
- DIV có Chi
nhánh, Văn phòng đại diện ở những nơi cần thiết.
Chi nhánh, Văn phòng đại diện là đơn vị phụ
thuộc của DIV. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của Chi nhánh, Văn phòng đại diện do Tổng giám
đốc quy định sau khi được Hội đồng quản trị phê
duyệt.
- Chi nhánh, Văn
phòng đại diện là đơn vị hạch toán phụ thuộc, có
con dấu, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà
nước, tổ chức tín dụng Nhà nước hoặc Kho bạc Nhà
nước.
1.3. Nguồn vốn của DIV
1.3.1. Nguồn vốn của DIV được hình thành như
thế nào?
Nguồn vốn của
DIV được hình thành như sau:
- Vốn Điều lệ
của DIV được Nhà nước cấp;
- Quỹ dự phòng
nghiệp vụ (nguồn thu từ phí BHTG);
- Tiền thu hồi
được từ việc thanh lý tài sản của tổ chức tham
gia BHTG bị phá sản;
- Vốn tài trợ
hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước (nếu có);
- Các khoản
chênh lệch do đánh giá lại tài sản;
- Các loại quỹ:
Quỹ dự phòng tài chính, Quỹ đầu tư phát triển,
Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, Quỹ khen
thưởng, Quỹ phúc lợi;
- Vốn đầu tư xây
dựng cơ bản và mua sắm tài sản cố định do Nhà
nước cấp (nếu có).
Trong trường hợp
vốn hoạt động của tổ chức BHTG tạm thời không đủ
để hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn
về khả năng chi trả hoặc để chi trả tiền bảo
hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia
BHTG bị buộc giải thể do không có khả năng thanh
toán được các khoản nợ đến hạn hoặc bị phá sản
thì tổ chức BHTG có thể huy động vốn theo các
hình thức sau:
-
Vay hoặc
tiếp nhận vốn hỗ trợ đặc biệt của Chính phủ;
- Phát hành
trái phiếu theo quy định của pháp luật về việc
phát hành trái phiếu;
- Vay của tổ
chức tín dụng hoặc tổ chức khác có bảo lãnh của
Chính phủ.
1.3.2. Quỹ dự phòng nghiệp vụ được sử dụng như
thế nào?
Quỹ dự phòng
nghiệp vụ được dùng để chi trả bảo hiểm cho
người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG mất khả
năng thanh toán và có quyết định chấm dứt hoạt
động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Trong điều kiện hoạt động của các tổ chức tham
gia BHTG ổn định, DIV chưa phải sử dụng Quỹ dự
phòng nghiệp vụ để chi trả tiền bảo hiểm cho
người gửi tiền, DIV có thể tạm thời sử dụng Quỹ
dự phòng nghiệp vụ để mua trái phiếu Chính phủ;
trái phiếu, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ
chức tín dụng Nhà nước; gửi tiền tại Kho bạc Nhà
nước, Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng
Nhà nước nhằm bảo đảm bảo tồn vốn và bù đắp chi
phí.
2.
TỔ CHỨC THAM GIA BẢO HIỂM TIỀN GỬI
2.1. Những tổ chức nhận tiền gửi nào phải tham
gia BHTG?
Các tổ chức tín
dụng (TCTD) và tổ chức không phải TCTD được phép
thực hiện một số hoạt động ngân hàng (theo Luật
các TCTD) có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân
bằng đồng Việt Nam đều phải tham gia BHTG bắt
buộc, bao gồm:
- Ngân hàng
thương mại Nhà nước;
- Ngân hàng
thương mại cổ phần;
- Ngân hàng liên
doanh;
-Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam;
- Công ty tài
chính;
- Công ty cho
thuê tài chính;
- Quỹ tín dụng
nhân dân;
- Các tổ chức
nhận tiền gửi khác theo quy định của Pháp luật.
2.2. Hồ sơ đăng ký tham gia BHTG bao gồm những
gì?
Hồ sơ đăng ký
tham gia BHTG gồm:
- Phiếu đăng ký
tham gia BHTG theo mẫu quy định của DIV;
- Quyết định
thành lập và giấy phép hoạt động ngân hàng hoặc
giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng do
các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp;
- Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh;
- Điều lệ tổ
chức và hoạt động;
- Danh sách Hội
đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) và Ban
kiểm soát được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm
quyền bổ nhiệm hoặc phê chuẩn;
- Báo cáo tài
chính của năm gần nhất có xác nhận của cơ quan
quản lý Nhà nước có thẩm quyền hoặc đã được kiểm
toán (nếu đã hoạt động từ một năm trở lên).
Riêng đối với báo cáo tài chính của Quỹ tín dụng
nhân dân cơ sở sẽ do Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
tự chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính
xác của báo cáo;
- Điều lệ hoặc
Quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị chủ quản
mà tổ chức tham gia BHTG là thành viên.
Các loại văn
bản, báo cáo nêu trên tổ chức nhận tiền gửi phải
gửi cho DIV bản chính, trường hợp không đủ bản
chính thì gửi bản sao có công chứng.
2.3.
Thời điểm đăng ký tham gia BHTG ?
Các tổ chức nhận tiền gửi phải hoàn tất thủ tục
tham gia BHTG trước khi bắt đầu tiến hành hoạt
động nhận tiền gửi. |