Mobile Money – Nâng cao tiếp cận dịch vụ tài chính và bài toán quản lý

08:43-20/08/2019

Bên cạnh những lợi ích vượt trội như người dân có thể sử dụng tài khoản điện thoại di động để chuyển tiền cho nhau và thanh toán hàng hoá có giá trị nhỏ, qua đó trao cơ hội cho người dân tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ tiền điện tử trên thuê bao di động (Mobile money) cũng có những rủi ro tiềm tàng. Việc hoàn thiện hàng lang pháp lý đối với dịch vụ Mobile Money đang được các cơ quan quản lý xúc tiến hoàn thiện, từ đó có thể triển khai rộng khắp tại thị trường Việt Nam.

Mobile Money – thêm cơ hội tiếp cận dịch vụ ngân hàng

Theo Bộ Thông tin và truyền thông, hết năm 2018, thế giới đã có 90 nước chấp nhận Mobile Money, gần 900 triệu người dùng, giao dịch mỗi ngày là 1,3 tỷ đô la, tăng trưởng 20%, riêng châu Á tăng trưởng 31%. Có nhiều nước, tỷ lệ người dân sử dụng Mobile Money tới trên 50%. Ở các nước, nông dân có thể sử dụng Mobile Money từ khi mua hạt giống đến khi bán sản phẩm nông sản. Thậm chí người nông dân có thể vay, dùng tiền điện tử trên thuê bao di động thanh toán trước để mua nguyên vật liệu cần thiết cho sản xuất. Tại các nước đang phát triển, khoảng 15% người trưởng thành có doanh thu từ bán nông sản, nhưng đa số họ nhận tiền mặt, hình thức thanh toán rủi ro, không hiệu quả và bất tiện khi thu tiền.

Tại Việt Nam, 99% các giao dịch dưới 100.000 đồng là bằng tiền mặt. Mobile Money sẽ là giải pháp mạnh mẽ để thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Một khi Mobile Money được cấp phép triển khai, người dân có thể sử dụng tài khoản điện thoại di động để chuyển tiền cho nhau và thanh toán hàng hoá có giá trị nhỏ. Mobile Money với các giao dịch nhỏ chính là bước tập dượt để người dân trở thành khách hàng của ngân hàng. Hay, Mobile Money là một ví dụ thuyết phục về việc nhà mạng viễn thông có thể trở thành nền tảng của nhiều thứ, chứ không chỉ là hạ tầng viễn thông như hàng trăm năm nay.

Nói cách khác, Mobile Money sẽ trao cho cho người dân cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng, nhất là với người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và những người không có tài khoản ngân hàng và khó tiếp cận với dịch vụ ngân hàng. Mobile Money sẽ là giải pháp để đưa họ tiếp cận tới các dịch vụ (có trả phí) mang tính đổi đời trên nền tảng Internet như y tế, giáo dục, tài chính, việc làm, an sinh xã hội. Mobile Money thâm nhập thị trường nông thôn và số hoá chuỗi giá trị nông nghiệp. Không chỉ kích thích sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh kỹ thuật số,  Mobile Money còn đẩy mạnh việc tiếp cận các dịch vụ tài chính.

Qua các khảo sát cho thấy, Việt Nam đang có nền tảng tốt để phát triển Mobile Money, bởi số dân lên tới 96 triệu người, trong đó có tới 35% người dân sống ở nông thôn. Việt Nam có tới 75% số người dân sử dụng điện thoại di động, 66% người sử dụng internet và 64% sử dụng mạng xã hội… Tuy nhiên, chỉ có 31% tổng số dân có tài khoản ngân hàng; 6,2% tổng số dân có thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ; 3,5% người dân sử dụng Mobile Money.

Tóm lại, Mobile Money cho phép mọi người dân đều được tiếp xúc với các công cụ thanh toán chính thống không dùng tiền mặt và giúp đẩy nhanh tốc độ số hoá nền kinh tế. Tuy vậy, vẫn còn đó nhiều bài toán cần phải giải quyết, trong đó có vấn đề pháp lý để dịch vụ tiền điện tử trên thuê bao di động có thể được cấp phép tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiều người vẫn còn e ngại tính bảo mật của Mobile Money.

Cần khuôn khổ pháp lý

Thực tế, các cơ quan quản lý cũng trăn trở khi triển khai Mobile Money, khi mà Việt Nam vẫn chưa hình thành khuôn khổ pháp lý đối với loại hình dịch vụ này. Hiện chưa có bất kỳ bộ luật nào của Việt Nam đưa ra định nghĩa về Mobile Money. Ở một góc độ nào đó, gần gũi nhất với dịch vụ Mobile Money chính là các ví điện tử.

Nghị định 80/2016/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ quy định, ví điện tử là dịch vụ cung cấp một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính...).

Theo đại diện Vụ Thanh toán (NHNN),  Mobile Money về bản chất là e-money hay ví điện tử, nhưng không có liên kết tài khoản ngân hàng. Nếu tách phần định nghĩa của ví điện tử là tài khoản định danh điện tử lưu trữ giá trị tiền tệ tương ứng với số tiền của khách hàng nạp vào theo tỷ lệ 1:1 thì sẽ ra Mobile Money.

Như vậy, về bản chất Mobile Money chính là e-money theo định nghĩa của các nước. Với Việt Nam, đó là một loại ví điện tử nhưng không có tài khoản ngân hàng.

Với ví điện tử, việc định danh khách hàng (KYC) được thực hiện bởi các ngân hàng. Đây cũng là điểm khác biệt lớn nhất khi mà việc định danh của mobile này được thực hiện bởi chính các nhà mạng. Thách thức với các nhà mạng là kho dữ liệu khách hàng phải chính xác, tránh mạo danh và xác thực được như ở các ngân hàng.

Nếu coi Mobile Money là một tài khoản điện tử định danh được thực hiện thông qua thiết bị di động thì tài khoản định danh e-money phải được lưu trữ trên hệ thống chứ không phải mất điện thoại là mất tất cả. Điều này đòi hỏi nhà mạng phải có một hệ thống công nghệ thông tin lưu trữ toàn bộ dữ liệu này.

Theo các chuyên gia, hệ thống thanh toán Mobile Money của Việt Nam có các dịch vụ như Momo; Vnpay; Viettel Pay. Ví dụ với dịch vụ Momo - một loại tiền điện tử trên thuê bao di động tại Việt Nam - ví điện tử này giúp các thanh toán của khách hàng thuận tiện hơn tài khoản ngân hàng hiện nay. Các giao dịch hằng ngày như trả tiền điện thoại, thanh toán mua sắm bằng Momo… tiện dụng, bởi có nhiều kết nối hơn các dịch vụ khác như thẻ tín dụng, internet banking.

Quan trọng là đảm bảo quyền lợi khách hàng

Đại diện NHNN cho biết, quan điểm của NHNN là Mobile Money không được làm phát sinh lượng tiền tệ. Theo đó, số tiền công ty viễn thông nhận của khách phải được nạp tương ứng theo tỷ lệ 1:1. Ví dụ, 100 đồng nạp vào qua đại lý là khách hàng có 100 đồng trong ví, không phải có chuyện nạp 90 đồng lại được 100 đồng trong ví.

Quyền lợi của khách hàng khi sử dụng Mobile Money cũng phải được đảm bảo. Ở một số quốc gia, tiền của khách hàng được dùng vào nhiều việc, đảm bảo bằng nhiều phương thức như gửi ngân hàng, đầu tư vào trái phiếu chính phủ hoặc đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro thấp.

Do vậy, một trong những lưu ý của cơ quan quản lý là nguyên tắc quản lý tiền gửi của khách hàng ở tài khoản Mobile Money. Theo đó, tổng số dư của ví Mobile Money phải tương ứng với số tiền của công ty viễn thông gửi ở một tài khoản ngân hàng, công ty viễn thông chỉ sử dụng tài khoản đảm bảo này cho dịch vụ ví Mobile Money mà không được làm gì khác. Công ty Mobile Money có thể thua lỗ, phá sản, tiền khách hàng nạp vào ví vẫn được đảm bảo ở ngân hàng.

Để có thể triển khai Mobile Money, nhà mạng viễn thông cần các điều kiện như được NHNN cấp phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, có nghiệp vụ xác minh thông tin khách hàng, loại bỏ thuê bao sim rác, có nguồn tài chính đảm bảo thanh toán. Như vậy, sau khi được Chính phủ đồng ý, 2/3 đơn vị viễn thông lớn là Vinaphone và Viettel có thể tham gia ngay. Mobifone cũng đang trong quá trình xin cấp phép trung gian thanh toán.

Theo đại diện Viettel, để Mobile Money phát triển, cơ quan quản lý cũng như nhà mạng cần có năng lực về phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố. Đặc biệt, cơ quan chức năng cần đảm bảo an toàn hệ thống, bảo mật thông tin khách hàng; phải có năng lực phát hiện sớm, xử lý các giao dịch đáng ngờ; có năng lực kiểm soát, giám sát đào tạo các đại lý tham gia. Hơn nữa, Việt Nam cần có hệ sinh thái gồm các ngân hàng, mạng lưới các đại lý, cửa hàng bán hàng từ đó tạo ra dịch vụ rút tiền, nộp tiền cho khách hàng…

Được biết, phương án cho các doanh nghiệp viễn thông triển khai thí điểm Mobile Money đang ở giai đoạn cuối lấy ý kiến từ các Bộ, ngành liên quan.

Hoàng Anh