Nguồn vốn vay đa được sử dụng hiệu quả hơn

09:50-11/10/2019

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến 24/9/2019 tín dụng tăng 8,64%. Các chuyên gia nhận định, tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn đạt được ở mức cao cho thấy việc sử dụng nguồn vốn vay đã hiệu quả hơn.

Thời gian qua, tăng trưởng tín dụng được ngành ngân hàng kiểm soát phù hợp với chỉ tiêu định hướng, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần cải thiện tăng trưởng GDP. Mức tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP năm 2016 lần lượt là 18,25% và 6,21%; năm 2017 là 18,28% và 6,81%; năm 2018 là 13,89% và 7,08%; năm 2019 dự kiến khoảng 14% và 6,8%.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2019 tăng 6,79%, tuy thấp hơn mức tăng trưởng của quý I/2018 nhưng cao hơn mức tăng trưởng quý I của các năm từ 2011-2017. GDP quý II/2019 ước tính tăng 6,71% so với cùng kỳ năm trước. Đến quý III/2019, GDP ước tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 6,82% của quý I và 6,73% của quý II năm nay. Trong khi đó, tín dụng quý I/2019 tăng gần 3% so với cuối năm 2018; tín dụng quý II/2019 tăng trên 7%; sang quý III/2019, đến 24/9/2019 tăng gần 9% (cùng kỳ năm 2018 tín dụng tăng 9,52%) – được cho là có dấu hiệu tăng chậm lại.

Điều hành tín dụng hợp lý, hiệu quả

Trong điều hành tín dụng, năm 2019, trên cơ sở bám sát Nghị quyết 01 của Chính phủ, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 08/01/2019 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành ngân hàng, trong đó định hướng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2019 khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế nhằm kiểm soát lạm phát (dưới 4%), duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế (mục tiêu 6,8%) theo mục tiêu Quốc hội đã đề ra.

Về chỉ tiêu tín dụng năm 2019 ở mức 14% được nhận định bởi các lý do sau: Trước hết, nhìn lại năm 2018, tín dụng toàn hệ thống chỉ tăng 14%, nhưng GDP vẫn tăng 7,08%, cao nhất trong vòng 10 năm qua. Bên cạnh đó, tín dụng tăng chậm lại, song tổng quy mô tín dụng trong nền kinh tế đã đạt trên 140%/GDP. Ngoài ra, tín dụng chỉ là một trong nhiều kênh dẫn vốn cho nền kinh tế. Ngoài kênh này, doanh nghiệp còn cần huy động vốn bằng kênh trái phiếu, cổ phiếu…

Cùng với việc đưa ra hạn mức tăng trưởng thấp cho toàn hệ thống, NHNN đã thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đến từng TCTD trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng lành mạnh, trong đó ưu tiên chỉ tiêu cao hơn đối với TCTD thực hiện trước thời hạn các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016.

Đồng thời, NHNN cũng chỉ đạo các TCTD tập trung tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là lĩnh vực ưu tiên, triển khai các chương trình, chính sách tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân; nâng cao chất lượng tín dụng; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro (như bất động sản, chứng khoán, dự án BOT, BT giao thông...). Các TCTD cân đối tài chính để áp dụng lãi suất cho vay hợp lý; nghiên cứu dành nguồn vốn để phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống chính đáng của người dân; tiếp tục đơn giản hóa thủ tục cho vay giúp người dân tiếp cận nguồn vốn ngân hàng thuận lợi; xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ khi người dân gặp khó khăn chưa thể trả được nợ đúng hạn phù hợp với các quy định của pháp luật.

Đặc biệt, đầu năm 2019, để mở rộng các hình thức cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng góp phần hạn chế tín dụng đen, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), Thống đốc NHNN đã quyết định nâng mức cho vay và thời hạn lên gấp đôi đối với hộ nghèo, từ 50 triệu đồng/hộ lên 100 triệu đồng/hộ vay, kéo dài thời hạn cho vay từ 60 tháng lên tối đa 120 tháng. Các chương trình cho vay có quy định áp dụng mức cho vay tối đa như hộ nghèo (hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, khu vực dân tộc thiểu số) cũng được áp dụng điểm mới này.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đẩy mạnh tiếp cận vốn của người dân, nhất là người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn như: sửa đổi các quy định về cho vay tiêu dùng, các quy định đối với các tổ chức tài chính vi mô và hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND); Phối hợp NHCSXH, các Bộ ngành liên quan nghiên cứu, trình Chính phủ xem xét ban hành quy định mở rộng cho vay tiêu dùng cho các đối tượng vay vốn tại NHCSXH.

Ngoài ra, ngành ngân hàng cũng phối hợp các địa phương tiếp tục đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hướng tới phát triển bền vững.

Quan trọng là hiệu quả sử dụng vốn vay

Nhờ thực hiện quyết liệt các giải pháp trên, tín dụng tăng ngay từ đầu năm. Đến ngày 24/9/2019 tín dụng tăng 8,64%. Tín dụng đối với hầu hết các lĩnh vực ưu tiên đều tăng khá như: Tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 22,04%; Tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu tăng 13,2%; Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 11,42%; Tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 6%; Tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 1,85%. Các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như cho vay hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp, cho vay khuyến khích nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao, nhà ở xã hội,...cũng được các TCTD tiếp tục triển khai quyết liệt. Tín dụng đối với lĩnh vực rủi ro được kiểm soát chặt chẽ, phù hợp với định hướng của NHNN.

TS. Nguyễn Xuân Thành – Giảng viên Chính sách công của Trường Đại học Fulbright Việt Nam nhận định, điểm tích cực nhất trong chính sách tiền tệ là việc giảm được tăng trưởng tín dụng. Hoạt động này góp phần hạn chế tình trạng bong bóng trong lĩnh vực bất động sản và rủi ro tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn đạt được ở mức cao cũng cho thấy hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay đã hiệu quả hơn.

Chuyên gia này cũng lưu ý về việc sử dụng “đòn bẩy” trong nền kinh tế, khi tỷ lệ nợ công ở mức 61,1% GDP và tỷ lệ tín dụng cho khu vực tư nhân ở quanh mức 130% GDP.

Mức tăng trưởng tín dụng 14% năm 2018 vẫn được vị chuyên gia này đánh giá là cao so với GDP – dù rằng nó đã thấp hơn đáng kể so với các năm trước (năm 2017 là 18,17%; năm 2016 là 18,71%). Về mặt trung hạn, để ổn định vĩ mô, TS Nguyễn Xuân Thành khuyến nghị tăng trưởng tín dụng trong các năm tới cần phải thấp hơn, chỉ từ 11-12%/năm.

“Trước đây, khi nền tài chính chưa phát triển, người ta không đi vay mà dùng vốn tự có. Nhưng đến một giai đoạn, khi nền tài chính phát triển theo chiều rộng và chiều sâu thì tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán có thể cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng của GDP” – ông Thành nhận định.

Như vậy, có thể thấy, tín dụng đến Quý III tăng trưởng thấp so với cùng kỳ năm 2018 tiếp tục tập trung vào lĩnh vực ưu tiên, chất lượng tín dụng được đảm bảo, góp phần hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hợp lý. Hơn nữa, trong Quý IV thường sẽ là thời điểm tín dụng tăng tốc do nhu cầu vay vốn cuối năm rất lớn, do đó nhiều khả năng tín dụng vẫn đạt chỉ tiêu 14%.

Hà Linh