Hoàn thiện pháp lý cho Fintech phát triển, góp phần phổ cập tài chính

13:02-14/08/2019

Có thể nói, sự hợp tác ngân hàng – Fintech (công nghệ tài chính) góp phần quan trọng trong việc nâng cao tiếp cận dịch vụ tài chính - ngân hàng cho người sử dụng tại Việt Nam. Để không ai bị bỏ lại phía sau trong tiếp cận dịch vụ tài chính - ngân hàng, cơ quan quản lý đã và đang hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cũng như hệ sinh thái cho sự phát triển Fintech tại Việt Nam. 

Lợi ích từ Fintech - công cụ hỗ trợ phổ cập tài chính

Những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến những thay đổi rất lớn liên quan đến Fintech, khi các ngân hàng và quỹ đầu tư mạo hiểm đã đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực này, mang lại nhiều lợi ích cho các đối tượng sử dụng dịch vụ tài chính, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro tiềm tàng.

Việc hợp tác giữa Fintech và ngân hàng được coi là tiền đề cho việc nâng cao tiếp cận dịch vụ tài chính - ngân hàng cho người sử dụng tại Việt Nam.

Theo phân tích của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), về lợi ích, những thay đổi về Fintech đã đóng góp rất lớn trong việc mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính (phổ cập tài chính), giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính minh bạch và các sản phẩm đơn giản hơn, thuận lợi và hiệu quả, đồng thời góp phần kiểm soát hiệu quả chi phí và thu nhập.

Cụ thể hơn, đó là việc tài chính số đang nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, nhất là những nhóm khách hàng chưa có cơ hội tiếp cận tài chính. Cho tới nay, mặc dù số lượng điện thoại di động sử dụng lớn hơn dân số thế giới hiện nay, nhưng chỉ 6/10 người trưởng thành có tài khoản ngân hàng. Vì thế, dịch vụ tài chính được dự báo là sẽ cung cấp cho nhiều khách hàng với tốc độ cao, có trách nhiệm và hiệu quả.

Bên cạnh những dịch vụ mới mà làn sóng Fintech mang lại thì sự hợp tác ngân hàng – Fintech sẽ biến Fintech trở thành cánh tay nối dài của các ngân hàng tới những đối tượng dùng chưa có tài khoản ở ngân hàng truyền thống hay những đối tượng chưa tiếp cận dịch vụ truyền thống (unbanked), mang lại những trải nghiệm tốt, linh hoạt, nhiều tiện ích cho khách hàng, hỗ trợ đắc lực cho phổ cập tài chính (financial inclusion) sâu rộng hơn, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội. Bởi một trong những điểm nổi bật của Fintech chính là tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho khách hàng. Fintech có những lợi ích đối với tài chính quốc gia như giúp tăng cường khả năng tiếp cận tài chính thông qua những tiện ích về công nghệ, giúp cho khu vực vùng sâu, vùng xa, nông thôn có thể tiếp cận dịch vụ mà bản thân ngân hàng truyền thống chưa đạt được.

Bên cạnh đó, nếu các công ty công nghệ liên kết được với ngân hàng sẽ có nhiều sản phẩm ra đời giúp đa dạng hóa dịch vụ tài chính, khách hàng có thể lựa chọn nhiều sản phẩm, giúp phân tán rủi ro và giúp giảm được các cú sốc tài chính. Fintech trong thời gian qua đã và đang là “cánh tay nối dài” của ngân hàng vì muốn thanh toán các giao dịch đều phải thông qua ngân hàng, và Fintech đang là đối tác đem khách hàng về cho ngân hàng.

Có thể thấy, thế mạnh của ngân hàng là tuân thủ các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, các ngân hàng có danh tiếng, uy tín đối với khách hàng và cộng đồng, đồng thời hiểu biết dịch vụ ngân hàng tốt. Tuy nhiên, điểm yếu của các ngân hàng là thường đi chậm hơn so với các công ty công nghệ khác trong việc sáng tạo, cải tiến trong công nghệ. Trong khi đó, các công ty Fintech mang tính chất là startup (khởi nghiệp) nên rất sáng tạo và năng động. Họ đánh giá dịch vụ ngân hàng dưới góc độ của khách hàng và sẵn sàng cung cấp các dịch vụ mang lại trải nghiệm tốt hơn cho người dùng.

Bên cạnh đó, các công ty Fintech phát triển với quy trình linh hoạt hơn. Dẫu vậy, điểm yếu của các công ty Fintech là không có được sự hỗ trợ về tính tuân thủ pháp lý, các quy định về an toàn tiền tệ, phòng chống rửa tiền… nên khó tạo được sự tin tưởng, thương hiệu cho các hoạt động tài chính. Ngoài ra, ngân hàng có một lượng khách hàng truyền thống, có thương hiệu, có uy tín, có mạng lưới… do đó, việc bị thay thế hoàn toàn khó có khả năng xảy ra. Tuy nhiên, những ngân hàng đứng độc lập, không tham gia vào làn sóng Fintech sẽ bị tụt hậu khi các nhà băng tận dụng được sức mạnh từ Fintech vượt mặt. Như vậy, nếu kết hợp lại cả 2 bên sẽ tận dụng được thế mạnh của nhau và đây là xu hướng của rất nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.

Theo báo cáo về ngân hàng - tầm nhìn đến năm 2020 của Công ty Kiểm toán quốc tế Delloit, sự hợp tác chính là chìa khóa then chốt mang lại sự thành công cho các doanh nghiệp Fintech và các ngân hàng trong kỷ nguyên số. Báo cáo đã chỉ ra những nhân tố thành công then chốt cho mối quan hệ hợp giữa ngân hàng - Fintech nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính sáng tạo và nâng cao trải nghiệm khách hàng.

Thứ nhất là khả năng mở rộng thị trường (Scalability): Hợp tác với các ngân hàng có thể giúp giảm thời gian đưa ra thị trường các giải pháp mới bằng cách tận dụng các mạng lưới ngân hàng hiện có. Ngoài ra, những thỏa thuận “độc quyền” tiềm năng giữa các ngân hàng và các công ty Fintech phải được cá thể hóa và không để vượt quá giới hạn của sự đổi mới, sáng tạo.

Thứ hai là vòng đời sản phẩm: Việc hợp tác cùng phát triển giữa ngân hàng và các công ty Fintech có thể đạt tới tầm ảnh hưởng đến các sản phẩm tài chính hiện có. Đồng thời, tác động đến khách hàng hiện có, đặc biệt là những khách hàng ít hiểu biết về công nghệ.

Thứ ba là niềm tin của khách hàng: Đây là nhân tố được đặt ở vị trí trung tâm của mô hình. Niềm tin của khách hàng vào ngân hàng được xây dựng qua hàng thập kỷ về trách nhiệm quản trị rủi ro và kinh nghiệm pháp lý. Các ngân hàng cần phải được lựa chọn để hợp tác với công ty Fintech phù hợp. Bên cạnh đó, những thành phần tham gia phải làm việc với nhau để nhìn nhận những hạn chế của hệ thống hoặc rào cản pháp lý trong phạm vi hoạt động của ngân hàng.

Thứ tư là tầm nhìn: Các công ty Fintech cần có tầm nhìn nhằm hướng tới tạo ra các giải pháp đổi mới, sáng tạo cho hệ sinh thái dịch vụ tài chính. Trong khi đó, các ngân hàng phải nhìn nhận vai trò của mình như một đối tác tích cực trong mối quan hệ hợp tác với các công ty Fintech.

Thứ năm là tự xây dựng hay mua lại: Là câu hỏi dẫn đến sự hình thành nhanh chóng mô hình hợp tác nhằm tận dụng công nghệ để cung cấp sản phẩm, dịch vụ nhanh chóng ra thị trường, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng.  

Như vậy, việc hợp tác giữa ngân hàng và công ty Fintech sẽ là sự bổ trợ hoàn hảo cho nhau, giúp tạo ra giá trị cho người sử dụng và xã hội, thúc đẩy sự phát triển năng động của thị trường trong tương lai.

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích rõ ràng trên đây, sự trỗi dậy của Fintech cũng kèm theo nhiều rủi ro tiềm tàng, tác động trực tiếp đến các ngân hàng đương thời và những thành viên Fintech mới tham gia vào lĩnh vực tài chính. Những rủi ro chính phát sinh cùng Fintech như rủi ro về giảm lợi nhuận của ngân hàng, về kiểm soát an ninh mạng…

Trên thực tế, nhiều ngân hàng đã bắt tay hợp tác với các doanh nghiệp Fintech để cung ứng một hoặc một số dịch vụ tiện ích, làm phong phú thêm các sản phẩm, dịch vụ để phục vụ khách hàng. Theo lãnh đạo Vụ Thanh toán (NHNN), hiện có khoảng 80 công ty Fintech đang hoạt động tại nhiều lĩnh vực khác nhau của Fintech. Tổng giá trị các thương vụ đầu tư nước ngoài liên quan đến các công ty Fintech tại Việt Nam trong 2 năm 2016-2017 đạt khoảng 129 triệu USD. Tính đến hết năm 2017, thị trường Fintech Việt Nam đã đạt mức 4,4 tỷ USD (theo số liệu từ báo cáo của công ty tư vấn Solidiance).

Hoàn thiện hệ sinh thái để Fintech phát triển

Việc nhìn nhận về các cơ hội và thách thức Fintech mang lại với ngành tài chính ngân hàng nói riêng và đời sống kinh tế - xã hội nói chung đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước.

Trong những năm qua, NHNN đã và đang chủ động trong việc tiếp cận vấn đề và đối thoại với các doanh nghiệp trong lĩnh vực Fintech để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, tạo điều kiện cho các đơn vị này gia nhập thị trường. Đến nay, sau khi thiết lập khuôn khổ pháp lý tương đối rõ ràng, NHNN đã cấp Giấy phép hoạt động chính thức cho gần 30 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Bên cạnh đó, nhận thức được tầm quan trọng của Fintech và tương lai phát triển của lĩnh vực này tại Việt Nam, thực hiện Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025", NHNN đã thành lập Ban Chỉ đạo lĩnh vực Công nghệ tài chính (Fintech) của NHNN vào tháng 3/2017 nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện hệ sinh thái, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Fintech ở Việt Nam phát triển.

Ban Chỉ đạo Fintech của NHNN đã hoàn thành Báo cáo đánh giá về Hệ sinh thái Fintech ở Việt Nam, đồng thời đề ra các nội dung trọng tâm của Fintech cần khẩn trương tập trung nghiên cứu, đó cũng là 5 lĩnh vực Fintech được NHNN quan tâm bao gồm: Thanh toán điện tử (e-payments), Định danh khách hàng điện tử (e-KYC); Cho vay ngang hàng (P2P Lending), Giao diện lập trình ứng dụng mở (Open APIs) và các giải pháp ứng dụng công nghệ Blockchain.  Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo Fintech của NHNN cũng thiết lập các kênh đối thoại trực tiếp với các công ty Fintech, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các công ty Fintech để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động.

Trong thời gian tới, NHNN sẽ tập trung xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của các công ty Fintech trong lĩnh vực ngân hàng, bổ sung, sửa đổi quy định của ngành ngân hàng để tương thích, phù hợp hơn với bối cảnh số hóa và xu hướng phát triển của Fintech. Đối với những giải pháp, nghiệp vụ mới của các công ty Fintech mà khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa quy định, NHNN có kế hoạch nghiên cứu, áp dụng cách thức quản lý theo khuôn khổ pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) phù hợp với thực tiễn, thông lệ quốc tế, tiến tới việc ban hành khuôn khổ pháp lý và quản lý chính thức.

Trước mắt, Việt Nam nên xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, cho phép công ty Fintech được thí điểm thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ trước khi cung ứng ra thị trường; xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh đối với Fintech; phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý ngân hàng trung ương và các đối tượng chịu sự điều chỉnh của khuôn khổ pháp lý; phối hợp với cộng đồng Fintech trong và ngoài nước. Đồng thời, cần ban hành thống nhất các quy định pháp lý về bảo vệ người tiêu dùng, bảo mật thông tin cá nhân và quy định về báo cáo đối với giao dịch liên quan. Đặc biệt, phải xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý giám sát tài chính thuộc 3 lĩnh vực ngân hàng - chứng khoán - bảo hiểm để phát hiện rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn.

Ngoài ra, trước làn sóng Fintech, các ngân hàng thương mại cũng nhìn nhận lại chiến lược kinh doanh, đẩy mạnh đổi mới mô hình, cải tiến quy trình nghiệp vụ, gia tăng tiện ích và cải thiện khách hàng. Fintech chủ động khai thác thị trường, tác động tới các đối tượng vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện và cần nhìn nhận rõ những thách thức để chủ động, tăng cường giải pháp trước những rủi ro. Hơn nữa, một trong những điểm mấu chốt để Fintech và ngân hàng phối hợp được là xây dựng hệ thống chia sẻ dữ liệu, xây dựng pháp lý theo tiêu chuẩn, các doanh nghiệp Việt Nam phải quan tâm tới khách hàng đầu tiên, phải đặt nhu cầu khách hàng lên đầu.

Hoàng Anh