Vì sao Luật Kinh doanh bảo hiểm không áp dụng với bảo hiểm tiền gửi?

09:39-27/10/2021

Trong chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV, dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm đang được đưa ra thảo luận. Theo dự thảo mới nhất (dự thảo lần 3) của Luật Kinh doanh bảo hiểm, quy định về phạm vi điều chỉnh nêu rõ, Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh. Vì sao lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Kinh doanh bảo hiểm?

Bảo hiểm tiền gửi là lĩnh vực phi lợi nhuận

Theo Hiệp hội BHTG Quốc tế (IADI), bảo hiểm tiền gửi (BHTG) được hiểu là “một hệ thống được thiết lập để bảo vệ người gửi tiền khỏi những tổn thất về tiền gửi được bảo hiểm của họ trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi không thể hoàn thành các nghĩa vụ nợ theo cam kết đối với người gửi tiền”.

Còn tại Việt Nam, Luật BHTG tại Việt Nam quy định: BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản. Các tổ chức tham gia BHTG ở đây được hiểu là các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật Các Tổ chức tín dụng, bao gồm ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô.

Như vậy, BHTG là một cam kết công khai của tổ chức BHTG về việc sẽ hoàn trả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi được bảo hiểm (bao gồm cả gốc và lãi) cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG được cơ quan chức năng xác định là mất khả năng thanh toán hoặc chấm dứt hoạt động.

Trên thế giới, chính sách BHTG thường được coi là một lĩnh vực chính sách công, nhằm hướng đến một hoặc nhiều mục tiêu khác nhau tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể trong mỗi thời kỳ. Trong đó, có thể chia các mục tiêu của chính sách này vào 3 nhóm chính. Trước hết là bảo vệ người gửi tiền quy mô vừa và nhỏ - đối tượng có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận thông tin về điều hành và tình hình hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi. Chính sách BHTG cũng góp phần ổn định hệ thống các TCTD. Chính sách BHTG được sử dụng với mục đích tăng cường niềm tin công chúng, góp phần giảm thiểu đột biến rút tiền gửi, góp phần tạo cơ chế chính thức để xử lý các tổ chức nhận tiền gửi gặp sự cố và tham gia quá trình xử lý khủng hoảng tài chính. Bên cạnh đó, chính sách BHTG góp phần xây dựng một thị trường có tính cạnh tranh và bình đẳng cho các tổ chức nhận tiền gửi có quy mô và trình độ phát triển khác nhau; giúp tạo điều kiện quy định rõ trách nhiệm và quyền lợi của người gửi tiền, tổ chức nhận tiền gửi, chính phủ; giảm chi phí xử lý đổ vỡ ngân hàng và giảm thiểu gánh nặng tài chính cho người đóng thuế trong trường hợp có ngân hàng đổ vỡ. Để thực hiện mục tiêu chính sách công này, tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, các tổ chức BHTG đều là các tổ chức thuộc Chính phủ, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.

Do đó, lĩnh vực BHTG có sự khác biệt rất lớn với bảo hiểm thương mại. Những điểm khác biệt chính có thể được tóm tắt như sau:

Tiêu chí

Bảo hiểm tiền gửi

Bảo hiểm thương mại

Tính chất hoạt động

Hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.

Kinh doanh với mục đích sinh lợi.

Cơ chế bảo hiểm

Thông thường, các TCTD có nhận tiền gửi phải tham gia BHTG theo cơ chế bắt buộc được pháp luật quy định. Tại Việt Nam, việc tham gia BHTG là bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi.

Cơ chế tự nguyện, theo thỏa thuận

Hợp đồng bảo hiểm

Giữa tổ chức BHTG và tổ chức tham gia BHTG không ký kết hợp đồng bảo hiểm.

Tổ chức bảo hiểm ký kết hợp đồng bảo hiểm với tổ chức, cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm.

Đối tượng được  bảo hiểm

Được xác định theo các quy định pháp luật.

Được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Đối tượng nộp phí bảo hiểm

Được xác định theo quy định pháp luật của từng quốc gia. Tại Việt Nam, các tổ chức tham gia BHTG là đối tượng phải nộp phí BHTG. Người gửi tiền không phải “mua” BHTG, không phải nộp phí này.

Tổ chức, cá nhân ký hợp đồng bảo hiểm với tổ chức bảo hiểm.

Người được thụ hưởng tiền bảo hiểm

Được xác định theo quy định pháp luật của từng quốc gia. Tại Việt Nam, Luật BHTG quy định người được BHTG là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG.

Người được chỉ định thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm.

Như vậy, BHTG không phải là lĩnh vực bảo hiểm kinh doanh. Việc triển khai bảo hiểm tiền gửi hiện nay căn cứ trên Luật chuyên ngành là Luật Bảo hiểm tiền gửi, được ban hành năm 2012 và có hiệu lực từ 01/01/2013.

Hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở khu vực từ đầu năm 1997 cùng với tốc độ mở cửa và hội nhập trong khu vực và trên thế giới đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải củng cố lòng tin của công chúng vào hoạt động ngân hàng. Về mặt pháp lý, Luật Các TCTD năm 1997 quy định TCTD có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn hoặc BHTG. Từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thành lập tổ chức BHTG.

Trong bối cảnh đó, tổ chức Bảo hiểm tiển gửi Việt Nam với tên giao dịch quốc tế là Deposit Insurance of Vietnam (DIV) đã được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg, ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 07/7/2000. Đây là tổ chức được giao làm đầu mối triển khai hoạt động BHTG nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, hỗ trợ các TCTD gặp khó khăn, kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.

Tổ chức BHTG được hiểu là tổ chức tài chính được giao làm đầu mối thực hiện chính sách công về BHTG. Ở Việt Nam hiện nay, có duy nhất 01 tổ chức BHTG là Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Đây là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách BHTG, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Bảo hiểm tiển gửi Việt Nam có các nhiệm vụ như cấp, cấp đổi, thu hồi Chứng nhận tham gia BHTG, tính và thu phí BHTG, kiểm tra tại chỗ theo kế hoạch đối với các tổ chức tham gia BHTG, giám sát từ xa đối với 100% tổ chức tham gia BHTG. Khi phát hiện các vấn đề sai sót, tồn tại cũng như các rủi ro, yếu kém, Bảo hiểm tiển gửi Việt Nam báo cáo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để kịp thời chấn chỉnh, xử lý. Với nguồn vốn được cấp ban đầu và từ nguồn thu phí BHTG, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đầu tư nhằm phát triển năng lực tài chính, sẵn sàng đáp ứng các nhiệm vụ hỗ trợ tài chính hoặc chi trả theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về BHTG.

Khi tổ chức BHTG gặp vấn đề và được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, Bảo hiểm tiển gửi Việt Nam cử nhân sự tham gia Ban kiểm soát đặc biệt theo chỉ đạo của NHNN. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng thực hiện cho vay đặc biệt để hỗ trợ thanh khoản khi TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, bị kiểm soát đặc biệt mà đe dọa đến sự ổn định hệ thống, mua trái phiếu dài hạn của tổ chức tín dụng hỗ trợ, kiểm soát, điều hành, hỗ trợ tài chính và hoạt động của TCTD được kiểm soát đặc biệt. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tham gia xây dựng và đánh giá phương án phục hồi đối với các QTDND, tổ chức tài chính vi mô trên cơ sở phối hợp với Ban Kiểm soát đặc biệt và Ngân hàng Hợp tác xã. Những nhiệm vụ này góp phần giúp phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu nguy cơ đổ vỡ tổ chức tham gia BHTG gây thiệt hại cho người gửi tiền và bất ổn về kinh tế, xã hội. Trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG không thể phục hồi và trở lại hoạt động bình thường, vẫn lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, phá sản, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đứng ra chi trả tiền bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền theo hạn mức do Thủ tướng Chính phủ quy định. Sau đó, tổ chức này sẽ tiếp tục tham gia quản lý, thanh lý tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ và thu hồi chi phí tương ứng với số tiền đã chi trả BHTG.

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cho biết, sau 22 năm hoạt động, tổ chức này đã có mạng lưới gồm trụ sở chính tại Hà Nội và 8 chi nhánh đặt tại 8 vùng kinh tế trọng điểm của đất nước. BHTGVN đang bảo hiểm cho tiền gửi của người gửi tiền tại 1.283 tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi (bao gồm 97 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1.181 quỹ tín dụng nhân dân, 01 ngân hàng hợp tác xã và 04 tổ chức tài chính vi mô. Từ nguồn vốn được cấp ban đầu là 1 nghìn tỷ đồng, tính đến 30/9/2021, tổng tài sản của BHTGVN đạt gần 80 nghìn tỷ đồng, trong đó Quỹ dự phòng nghiệp vụ đạt hơn 73 nghìn tỷ đồng. Đây là nguồn lực để Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam sẵn sàng chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền khi cần thiết và tham gia có hiệu quả vào quá trình tái cơ cấu hệ thống các TCTD.

Có thể nói, chính sách BHTG là một chính sách nhân văn của Chính phủ nhằm bảo vệ người gửi tiền, đặc biệt là người gửi tiền quy mô nhỏ, ít có điều kiện cập nhật thông tin về hoạt động tài chính - ngân hàng. Bảo hiểm tiền gửi đã và đang là một công cụ mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân hàng, không chỉ thực hiện mục tiêu chính sách công mà còn thúc đẩy kỷ luật thị trường, góp phần giữ ổn định hệ thống./.

Văn Úc