Dành cho khách hàng  
 

 Tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi
Cẩm nang
Tư vấn - Hỗ trợ

 

 Người gửi tiền
Cẩm nang
Tư vấn - Hỗ trợ

 
Liên kết  
Thăm dò ý kiến  
Khi gửi tiền vào ngân hàng bạn quan tâm tới yếu tố nào sau đây:




   Biểu quyết       Xem Kết Quả
Hoạt động Ngân hàng - Tài chính  

Cam kết mở cửa thị trường tài chính VN và yêu cầu hoàn thiện, nâng cao năng lực giám sát tài chính vĩ mô

09:48-24/02/2009

Sau 20 năm đổi mới, cấu trúc của thị trường tài chính (TTTC) ngày càng hoàn thiện, phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng, linh hoạt và đa dạng hơn. Các chủ thể tham gia vào thị trường từ cá nhân cho đến các định chế tài chính trong và ngoài nước tăng nhanh về số lượng, đa dạng về hình thức, loại hình kinh doanh, năng lực tài chính. Các qui tắc vận hành của TTTC và các thị trường cấu thành được xác lập và về cơ bản đáp ứng yêu cầu vận hành, phát triển của thị trường

Thể chế giám sát đối với các thị trường bộ phận được xác lập; sự quản lý của Nhà nước đối với TTTC đã được thể chế hóa và có sự phối hợp chặt chẽ. Tuy nhiên, khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam vẫn bị coi là nền kinh tế phi thị trường, theo cam kết đa phương là không được muộn quá 31/12/2018 nền kinh tế Việt Nam phải hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường. Đến nay, Việt Nam đã và đang thực hiện cam kết mở cửa thị trường cao nhất là trong khuôn khổ ASEAN và Hiệp định thương mại Viêt – Mỹ. Trong đó, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, các tổ chức tín dụng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam sẽ được phép thực hiện hầu hết các nghiệp vụ như các ngân hàng trong nước. Theo lộ trình, đến năm 2011, các TCTD này sẽ được đối xử quốc gia đầy đủ (xem hộp 1).

Trong quá trình thực hiện cam kết mở cửa dịch vụ tài chính, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ vào thị trường tài chính Việt Nam dễ dàng hơn và được hưởng qui chế đãi ngộ quốc gia trên nhiều lĩnh vực. Thêm vào đó, việc tự do hoá thương mại và đầu tư cũng thúc đầy việc hính thành các trung gian tài chính nước ngoài như một đòi hỏi khách quan. Điều đó một mặt có tác động tích cực đến sự phát triển của TTTC, mặt khác cũng có tác động tiêu cực, gây nên nguy cơ rủi ro cao cho TTTC . Những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro  khi mở cửa thị trường tài chính có thể kể đến là:

 Thứ nhất, về vấn đề cạnh tranh thị trường, đó là vấn đề tất yếu của sự phát triển, và không thể thiếu đối với nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, quá trình cạnh tranh cũng nẩy sinh rất nhiều rủi ro, nhất là trong thị trường tài chính. Đối với Việt Nam khi thực hiện các cam kết mở cửa thị trường tài chính, các NHTM trong nước không còn lợi thế của sự bảo hộ, đồng thời các NHTM trong nước cũng được mở rộng với nhiều hình thức sở hữu khác nhau, do vậy, để tồn tại và phát triển, các NHTM phải chiếm giữ, mở rộng thị phần hoạt động dưới mọi hình thức, như bằng lãi suất, nới lỏng các điều kiện vay vốn, nâng cao chất lượng dịch vụ, công nghệ ngân hàng…. Các NHTM trong nước do hạn chế về năng lực tài chính nên không có lợi thế cạnh tranh trong  việc đối mới công nghệ ngân hàng để nâng cao chất lượng dịch vụ, vì vậy cạnh tranh bằng lãi suất và nới lỏng điều kiện vay vốn đã và đang được các NHTM trong nươc sử dụng để chiếm lĩnh và mở rộng thị trường. Đây là vấn đề rất nguy hiểm đối với sự an toàn của hệ thống, đòi hỏi các cơ quan quản lý phải có những biện pháp giám sát thận trọng.   

Thứ hai, tự do hóa thị trường tài chính trong điều kiện chuẩn mực quản lý còn yếu kém, làm cho vấn đề bất đối xứng về thông tin (nhất là lựa chọn ngược, rủi ro đạo đức) trên thị trường tài chính trở nên trầm trọng hơn. Thực tế này đã và đang diễn ra không ít trên thị trường tài chính Việt Nam, và khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ khủng khoảng thị trường bất động sản Mỹ, một trong những nguyên nhân là dó bất đối xứng thông tin dẫn đến đầu tư thiếu thận trọng, gây ra sự đổ vỡ dây truyền.

 Ba là, nguy cơ rủi ro còn đến từ việc các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn (hoặc đầu tư) đột ngột với qui mô lớn khi nền kinh tế xuất hiện những bất ổn về kinh tế vĩ mô, hướng tới những mục tiêu mâu thuẫn nhau, nhất là chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ không tạo được lòng tin cho thị trường. Ngoài ra, tự do hoá dòng vốn còn có thể làm gia tăng việc đầu tư bất cẩn từ dòng vốn nước ngoài dẫn đến việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả, có thể kèm theo tình trạng bất ổn giá tài sản và đầu tư quá nóng vào một số lĩnh vực của nền kinh tế làm giảm giá trị tài sản của hệ thống tài chính, qua đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ giảm thấp. Thực tế ở Việt Nam trong những tháng đầu năm 2008, nền kinh tế xuất hiện những dấu hiệu mất cân đối vĩ mô, như lạm phát gia tăng, thâm hụt cán cân thương mại lớn, cùng với sự non trẻ của thị trường tài chính trước những thông tin thất thiệt trên thị trường, nên thị trường đã xuất hiện dầu hiệu rút vốn của một số nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường trái phiếu, hiện tượng đầu cơ ngoại tệ... đã gây ra những cú sốc tỷ giá trên thị trường ngoại hối.

Những tác động của việc thực hiện các cam kết WTO, của quá trình mở cửa, hội nhập thị trường tài chính đặt ra yêu cầu về việc  cầu hoàn thiện, nâng cao năng lực giám sát tài chính vĩ mô:

            -Trước hết, cần hoàn thiện mô hình giám sát thị trường tài chính của các cơ quan quản lý vĩ mô, cần có sự nghiên cứu để tìm kiếm một mô hình thích hợp cho Việt Nam. Hiện nay, giám sát thị trường tài chính của các cơ quan quản lý vĩ mô còn phân tán và chồng chéo, gây khó khăn không nhỏ cho các đối tượng bị giám sát trên thị trường tài chính. Hiện nay Chính phủ đã thành lập Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia, cùng song song tồn tại với các cơ quan giám sát chuyên ngành thuộc Bộ TC, NHNN, BHTG…Do vậy, giữa Ủy ban giám sát tài chính quốc gia và các cơ quan giám sát chuyên ngành cần có sự phối hợp xây dựng một mô hình giám sát tổng thể thị trường tài chính với những chức năng riêng biệt, không trùng lắp và hỗ trợ nhau đảm bảo sự giám sát hiệu quả thị trường tài chính.

            - Thứ 2, nâng cao năng lực, hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan giám sát chuyên ngành: Hiện nay cơ chế giám giát của các cơ quan chuyên ngành còn nhiều bất cập: (i)  năng lực cán bộ,  đội ngũ mỏng dẫn đến việc giám sát từ xa chưa gắn chặt với phân tích, xử lý thông tin; (ii) công khai tài chính còn xa với chuẩn mực quốc tế; hệ thống thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý; kiểm toán nội bộ chưa phát huy được vai trò, trong nhiều trường hợp chỉ là hình thức; việc giám sát các lĩnh vực mới ( rửa tiền, thanh toán điện tử..) còn hạn chế.;(iii) sự phối hợp đồng bộ giữa 3 bộ phận giám sát ( từ xa, tại chỗ, xử phạt) chưa đạt được sự đồng bộ, đặc biệt là chưa bảo đảm được sự độc lập của thanh tra, giám sát.

Vì vậy cần thực hiện cải cách cơ quan giám sát chuyên ngành, theo hướng:

            - Mục tiêu hoạt động giám sát các lĩnh vực tài chính cần phải được  nêu rõ khả thi và công khai minh bạch. Chẳng hạn, mục tiêu của giám sát ngân hàng  là nhằm: Đảm bảo thị trường tài chính hiệu quả, ổn định và có khả năng cạnh tranh; tạo ra hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả đối với các rủi ro như: Rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro pháp lý, rủi ro thị trường, rủi ro uy tín và rủi ro chiến lược.

- Quyền lực của cơ quan giám sát tài chính của từng lĩnh vực cần phải được qui định rõ trong Luật,  đủ để cho phép cơ quan giám sát hoạt động chuyên ngành thực hiện các chức năng của họ có hiệu quả. Đồng thời cơ quan giám sát chuyên ngành cần phải có đủ nguồn lực và vị trí tương đối độc lập về mặt chính trị để đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Mặt khác cơ quan giám sát trong từng lĩnh vực(ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm..) phải có cơ chế công khai minh bạch và chịu trách nhiệm rõ ràng, để các cơ quan giám sát có thể đề ra được các quyết định công bằng hiệu quả và chất lượng cao.

- Các thanh tra viên cần phải có kiến thức đầy đủ về các rủi ro trong hoạt động ngân hàng và các công cụ quản lý rủi ro, hiểu rõ môi trường hoạt động ngân hàng và các kênh truyển tải các rủi ro. Do vậy, các cơ quan giám sát chuyên ngành cần đổi mới phương pháp đào tạo thanh tra viên. Kiến thức về hoạt động NH, thị trường chứng khoàn, bảo hiểm, kế toán  của thanh tra viên phải toàn diện (đối với NHTW Thái lan, để trở thành thanh tra viên các cán bộ thanh tra điều phải qua chương trình  đào tạo thanh tra viên  6 năm).

- Hoạt động giám sát của các cơ quan giám sát đối với các định chế tài chính phải chuyển từ  cơ chế giám sát việc chấp hành như hiện nay sang cơ chế giám sát rủi ro dựa vào cơ chế thị trường gián tiếp. Cơ chế này sẽ giúp nâng cao các kỹ năng và công cụ quản lý rủi ro. Phương pháp quản lý theo rủi ro là yêu cầu không thể thiếu đối với hoạt động kinh doanh hàng ngày cuả các TCTD, các định chế tài chính khác nó đòi hỏi việc phân tích tín dụng một cách chặt chẽ hơn, yêu cầu việc thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống hơn.

            - Việc thực hiện các chuẩn mực của Basel I phải trở thành một sự bắt buộc đối với tất cả các ngân hàng trong nước cũng như nước ngoài. Điều này, trước mắt sẽ tạo ra những thách thức cho các NHTM, nhưng lại là bước quan trọng để có thể cạnh tranh hiệu quả trong trung hạn và sẽ tạo ra sự bình đẳng trên sân chơi đầy cạnh tranh. Đồng thời tạo những nên tảng cơ bản để tiến tới  áp dụng Basel II trong tương lai.

            - Tăng cường và nâng cao hiệu quả của thanh tra tại chỗ, để kịp thời ngăn chặn những hành động mạo hiểm chấp nhận rủi ro của các thành viên thị trường, nhất là các NHTM nhằm cạnh tranh để tăng thị phần. Ngoài việc qui định các tỷ lệ an toàn cho hoạt động cuả các định chế tài chính, như tỷ lệ đủ vồn, tỷ lệ thanh khoản... cơ quan quản lý cần có các chính sách giám sát đối với các rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất,  rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, chính sách về duy trì trạng thái ngoại hối, duy trì các tái sản có tính thanh khoản, chính sách quản lý về dịch vụ ngân hàng điện tử. Trong các chính sách này phải qui định rõ quyền hạn và tránh nhiệm của ban điều hành, qui định qui trình quản lý rủi ro, hướng dẫn đánh giá, kiểm soát và giám sát rủi ro .

Ba là, tăng cường hệ thống thông tin thị trường tài chính để hạn chế rủi ro bất cân đối thông tin, tạo cơ sở tốt cho các cơ quan giảm sát thức hiện tốt vai trò giám sát của mình. Theo đó, một vấn đề đặt ra hiện nay là cần đổi mới hệ thống thông tin thị trường ở rất rất nhiều khía cạnh, từ các đơn vị báo cáo đến các đơn vị sử dụng báo cáo. Đối với các đơn vị sử dụng báo cáo, cụ thể là giữa các cơ quan thực hiện chức năng giám sát hoạt động của thị trường tài chính cần có sự chia sẻ thông tin, chuẩn hoá các công tin đánh giá sức khoẻ của thị trường, để tránh tình trạng các đơn vị báo cáo phải báo cáo quá nhiều nơi với những tiêu chí khác nhau cho một mục đích giám sát, dẫn đến chất lượng báo cáo không đảm bảo. Thông tin thị trường tài chính được chuẩn hoá và đảm bảo tính chính xác, kịp thời có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giám sát và hạn chế rủi ro bất đối xứng về thông tin.

 Bên cạnh đó,  các cơ quan giám sát chuyên ngành  phải có các qui định về các công cụ tài chính phái sinh, như giao dịch phái sinh ngoại hối, lãi suất, hàng hoá, hoán đổi cổ phiếu và trái phiếu..., để tránh tình trạng xảy ra như trên thị trường phái sinh của Mỹ hiện nay.

Bốn là, trong bối cảnh hội nhập để hệ thống các định chế tài chính phát triển ổn định bền vững, ngoài việc phải đổi mới cơ chế giám sát từ các cơ quan quản lý, cũng đòi hỏi phải có sự đổi mới trong cơ chế giám sát cuả từng định chế tài chính, phải có yêu cầu các định chế tài chính công khai hoá thông tin tài chính ở cấp độ cao và có hệ thống kiểm toán độc lập. Việc yêu cầu báo cáo công khai phải được hỗ trợ bằng một hệ thống chuẩn mực kế toán phù hợp với thông lệ quốc tế, được quốc tế công nhận. Nhất là đối với hoạt động của các công ty chứng khoán, quĩ đầu tư.. trên thị trường chứng khoán.

            Nói tóm lại, Cam kết mở cửa thị trường tài chính sẽ mang lại cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống tài chính nói riêng nhiều lợi ích nhưng cũng không ít rủi ro, nhất là trong bối cảnh hệ thống các định chế tài chính Việt Nam đang ở mức độ thấp về công nghệ, trình độ tổ chức và chuyên môn nghiệp vụ, sức cạnh tranh còn yếu, cơ chế quản lý chưa hoàn thiện, nhất là về thanh tra, giám sát và tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng chưa được xử lý triệt để . Bên cạnh đó, các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, môi trường vĩ mô, cơ cấu định chế luật pháp và thị trường để chống đỡ với các cú sốc bên trong (như sự thay đổi không mong muốn về cầu tiền, đầu tư và tiết kiệm trong dân chúng, sự đổ vỡ hệ thống ngân hàng), cũng như những cú sốc bên ngoài (khủng hoảng kinh tế, chiến tranh..) khi mở cửa thị trường tài chính còn hạn chế sẽ là nguy cơ cho sự an toàn bền vững của thị trường tài chính Việt Nam. Điều này đòi hỏi, bên cạnh việc nâng cao năng lực giám sát, kiểm soát nội bộ của từng thành viên thị trường, hay nói ngắn gọn là giám sát vi mô, thỡ hoàn thiện nõng cao năng lực giám sát vĩ mô là cực kỳ quan trọng. Cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu càng cho thấy tầm quan trọng của năng lực giám sát vĩ mô đối với thị trường tài chính./.

Hộp 1: Cam kết gia nhập WTO trong lĩnh vực ngân hàng:

Hiện diện thương mại:

Các tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức sau:

  (i) Đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài: văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, ngân hàng thương mại liên doanhtrong đó phần góp vốn của bên nước ngoài không vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài và kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2007 được phép thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài.

 (ii) Đối với các công ty tài chính nước ngoài: văn phòng đại diện, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài.

 (iii)  Đối với các công ty cho thuê tài chính nước ngoài: văn phòng đại diện, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Tham gia cổ phần:

Đối với việc tham gia góp vốn dưới hình thức mua cổ phần, tổng số cổ phần do các thể nhân và pháp nhân nước ngoài nắm giữ tại mỗi ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng, trừ khi luật pháp Việt Nam có qui định khác hoặc được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt nam. 

Chi nhánh của 1 NHTM nước ngoài tại Việt Nam:

Điều kiện thành lập: Ngân hàng mẹ có tổng tài sản có trên 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn.

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép mở các điểm giao dịch khác ngoại trừ trụ sở chi nhánh của mình

Hạn mức trần huy động vốn của chi nhánh NH nước ngoài tại VN

Trong vòng 5 năm kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo  mức vốn  mà ngân hàng mẹ cấp cho chi nhánh phù hợp với lộ trình sau:

 -   Ngày 1 tháng 1 năm 2007: 650% vốn  pháp định được cấp;

-   Ngày 1 tháng 1 năm 2008: 800% vốn pháp định được cấp;

-   Ngày 1 tháng 1 năm 2009: 900% vốn pháp định được cấp;

-   Ngày 1 tháng 1 năm 2010: 1000% vốn pháp định được cấp;

-   Ngày 1 tháng 1 năm 2011: Đối xử quốc gia đầy đủ.

Điều kiện để thành lập một ngân hàng liên doanh hoặc một ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài là ngân hàng mẹ có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn. 

Điều kiện để thành lập một công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc một công ty tài chính liên doanh, một công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc một công ty cho thuê tài chính liên doanh là tổ chức tín dụng nước ngoài có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn. 

Ts. Nguyễn Thị Kim Thanh
 Viện trưởng Viện chiến lược- NHNN

 


duongvt


In ấn  Nhận xét  Nhận xét  Gửi Email  Quay lại

Các tin đã đưa
  • Từ cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn - An toàn là nguyên tắc hàng đầu - (12/12)
  • BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH - (08/12)
  • Lãi suất cơ bản xuống còn 10% - (03/12)
  • Hoạt động ngân hàng trên địa bàn TP.HCM trong quý III năm 2008 - (01/12)
  • Cần một cơ chế giám sát hiệu quả thị trường tài chính - (28/11)
  • Báo chí ngành Ngân hàng đã góp phần ổn định thị trường tài chính và nâng cao niềm tin cho công chúng - (14/11)
  • LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ KHI MỞ TÀI KHOẢN KINH DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI NGÂN HÀNG - (12/11)
  • Khủng hoảng tài chính thế giới: Bài học nào cho Việt Nam? - (03/11)

  • Bản quyền thuộc về DIV Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ web | Hỏi đáp  | English   |  Đăng Nhập  |  
    Số giấy phép: 94/GP-BC Bộ VH-TT, cấp ngày 12/4/2006 TBT: TS.Bùi Khắc Sơn
    Trụ sở chính: Tầng 12A, Capital Tower, 109 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
    Điện thoại: (84-4)3974 2886 Fax: (84-4)3974 2866 Email: webmaster@div.gov.vn