I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM 6 THÁNG ĐẦU NĂM
1. Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ngoại hối:
Thực hiện mục tiêu mở rộng tín dụng ở mức hợp lý, giảm dần mặt bằng lãi suất, đảm bảo khả năng thanh khoản cho nền kinh tế và cải thiện nguồn cung ngoại tệ, hạn chế nhập siêu, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ các biện pháp chỉ đạo, điều hành sau:
- Giữ ổn định lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm, lãi suất tái chiết khấu ở mức 6%/năm.
- Tăng lượng tiền cung ứng thông qua: (i) Điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, chủ yếu là chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày; giảm lãi suất kỳ hạn 7 ngày từ 7,8%/năm xuống 7,5%-7%/năm; (ii) Tăng khối lượng cho vay tái cấp vốn; (iii) Thực hiện hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng có dư vốn huy động bằng ngoại tệ; giảm lãi suất hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 1 tháng từ 8%/năm xuống 7,5%/năm và 3 tháng từ 8,5%/năm xuống 8%/năm; (iv) Hỗ trợ thanh khoản trực tiếp cho các ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ nhằm ổn định thị trường tiền tệ - tín dụng.
- Ban hành cơ chế cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với khách hàng theo hướng mở rộng đối tượng cho vay phù hợp với Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và diễn biến của nền kinh tế. Đồng thời, chỉ đạo các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố tăng cường kiểm tra, giám sát các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận và giảm dần mặt bằng lãi suất; đề nghị Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tạo đồng thuận giữa các thành viên trong việc thống nhất mặt bằng lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay VND phù hợp với khả năng vay vốn và trả nợ của doanh nghiệp và hộ sản xuất; chỉ đạo các ngân hàng thương mại thực hiện nghiêm túc các giải pháp về lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.
- Sửa đổi và ban hành các quy định hướng dẫn cho vay hỗ trợ lãi suất trong năm 2010 phù hợp với các quy định của Thủ tướng Chính phủ; chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện quyết toán hỗ trợ lãi suất đối với các khoản cho vay ngắn hạn bằng VND phát sinh trong năm 2009 và triển khai cho vay hỗ trợ lãi suất trong năm 2010 theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
- Chỉ đạo các tổ chức tín dụng mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, đơn giản hóa thủ tục cho vay; tập trung vốn cho vay chi phí sản xuất, kinh doanh khu vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ vốn cho vay lĩnh vực phi sản xuất.
- Theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ diễn biến lãi suất huy động và cho vay trên thị trường, tình hình tăng trưởng huy động và dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng, nhất là huy động và cho vay bằng ngoại tệ; xem xét các biện pháp điều chỉnh phù hợp đối với cho vay bằng ngoại tệ để không tạo sức ép lên tỷ giá và cung cầu ngoại tệ trên thị trường.
- Ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Triển khai nhiều giải pháp về điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ, thị trường vàng và cải thiện lòng tin của thị trường vào tính nhất quán của chính sách tiền tệ và tỷ giá:
+ Quy định lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Điều chỉnh tăng 3,36% tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD/VND kể từ ngày 11/2/2010 và duy trì ổn định cho đến nay.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực mua lại ngoại tệ của một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Bán ngoại tệ can thiệp ở mức hợp lý để hỗ trợ ngoại tệ nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung ngoại tệ cho vay nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được, hạn chế và kiểm soát chặt chẽ việc cho vay bằng ngoại tệ và VND để mua ngoại tệ nhập khẩu những mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu; Kiểm soát chặt việc sử dụng ngoại tệ, chuyển tiền ra nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân theo đúng quy định của pháp luật.
+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về quản lý ngoại hối của các tổ chức tín dụng; chấn chỉnh hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ.
+ Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai các biện pháp quản lý hoạt động kinh doanh vàng và chấm dứt hoạt động của các sàn giao dịch vàng; chỉ đạo việc tất toán trạng thái kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài; yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm lãi suất huy động vàng nhằm giảm áp lực mua vàng; can thiệp bình ổn thị trường vàng trong nước, hạn chế hoạt động đầu cơ, đưa giá vàng trong nước về sát giá vàng thế giới.
Diễn biến tiền tệ, tín dụng, ngoại hối 6 tháng đầu năm:
- Về lãi suất:
Diễn biến CPI tháng 12/2009 tăng 1,38%, tháng 01/2010 tăng 1,36% và tháng 02/2010 tăng 1,96% đã tác động đến tâm lý thị trường nên mặt bằng lãi suất huy động VND trong Quý I/2010 có xu hướng tăng, lãi suất cho vay VND thực tế ở mức khá cao. Sau khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm ổn định và giảm mặt bằng lãi suất, lãi suất huy động và cho vay VND từ đầu tháng 4/2010 đã giảm, tuy mức giảm chưa mạnh vì tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng dư nợ tín dụng. Lãi suất cho vay VND bình quân thực tế của 4 ngân hàng thương mại nhà nước và 7 ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô lớn khoảng 13,3%; Lãi suất cho vay ngắn hạn phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu ở mức 12,5% - 13%/năm, cho vay trung và dài hạn khoảng 14%/năm (tương ứng với lãi suất cùng kỳ năm 2006, 2007).
Lãi suất tiền gửi USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng giảm 1,3-3,5%/năm và duy trì ở mức 0,2-1%/năm; lãi suất tiền gửi USD của dân cư và lãi suất cho vay USD tăng nhẹ so với cuối năm 2009.
- Về tỷ giá và thị trường ngoại hối:
Từ đầu năm 2010, nguồn cung ngoại tệ trên thị trường đã được cải thiện đáng kể. Từ giữa tháng 4/2010, cung - cầu ngoại tệ đã trở lại cân bằng, tính thanh khoản của thị trường ở mức cao, các tổ chức tín dụng tự cân đối được ngoại tệ và không có nhu cầu mua ngoại tệ từ Ngân hàng Nhà nước, nhiều tổ chức tín dụng do lượng ngoại tệ mua được từ khách hàng tăng lên đã tiếp tục bán ngoại tệ cho Ngân hàng Nhà nước.
Nhờ những diễn biến tích cực của thị trường ngoại hối, tỷ giá giao dịch USD/VND của các ngân hàng thương mại từ tháng 4/2010 luôn thấp hơn trần cho phép, tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do xoay quanh tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại. Giá vàng trong nước diễn biến phù hợp với giá vàng thế giới, có thời điểm giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới.
- Về huy động vốn, cho vay:
Trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng huy động vốn và dư nợ tín dụng tăng dần, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. So với cuối năm 2009, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước tăng 10,82%, dư nợ tín dụng ước tăng 10,52%.
2. Bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng:
Để đảm bảo an toàn và phát triển hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung chỉ đạo triển khai các nội dung:
- Rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành một số quy định mới phù hợp với diễn biến của hoạt động ngân hàng tại Việt Nam và thông lệ, chuẩn mực quốc tế, như: Quy định về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng; hướng dẫn tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều lệ của ngân hàng thương mại; quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng; quy định về việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần. Trong đó, quy định mới về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng đã điều chỉnh tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9% và bổ sung quy định về tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (80% đối với ngân hàng và 85% đối với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng).
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng chú trọng phát triển mạng lưới chi nhánh ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn, gắn mục tiêu và hoạt động kinh doanh của chi nhánh với việc phục vụ phát triển kinh tế địa phương nơi mở chi nhánh, tiếp tục nâng cao năng lực tài chính, quản trị, điều hành, kiểm soát rủi ro đáp ứng yêu cầu hội nhập.
- Chỉ đạo các tổ chức tín dụng cổ phần rà soát vốn cổ phần của cổ đông, nhóm cổ đông có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của tổ chức tín dụng, đảm bảo việc quản lý đầu tư phù hợp với các quy định của pháp luật.
- Theo dõi, giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng. Áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn cho từng tổ chức tín dụng cũng như toàn hệ thống ngân hàng.
Nhìn chung, hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam trong 6 tháng đầu năm vẫn ổn định, khả năng thanh toán được đảm bảo, đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán của nền kinh tế.
3. Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt:
- Xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể cho từng địa bàn, phù hợp với đặc điểm tình hình và xu hướng phát triển của từng địa phương, với mục tiêu đến cuối năm 2010 có ít nhất 55% tổng số đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước thực hiện trả lương qua tài khoản (đến cuối năm 2009 tỷ lệ này là 41,5%);
- Tiếp tục triển khai đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất. Việc kết nối hệ thống ATM, POS thành một hệ thống thống nhất trên toàn quốc được triển khai tích cực, trong đó 03 liên minh thẻ Banknet – VNBC – Smartlink đã kết nối liên thông 10 thành viên là ngân hàng thương mại có số lượng thẻ phát hành chiếm 87% tổng số thẻ phát hành của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và 75% số lượng ATM trên toàn quốc.
Trong những tháng đầu năm 2010, các phương tiện và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhất là dịch vụ thẻ. Đến cuối tháng 5/2010, số lượng thẻ phát hành trên phạm vi cả nước đã đạt trên 24 triệu thẻ với 48 tổ chức phát hành thẻ và hơn 190 thương hiệu thẻ, gần 11.000 ATM và khoảng 37.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS. So với cuối năm 2009, số lượng thẻ phát hành tăng 14,3%, số lượng ATM tăng 22,2%, số lượng POS tăng 9%. Các dịch vụ tiện ích đi kèm thẻ ngày càng được đa dạng hóa như thẻ mua xăng dầu, mua hàng qua mạng, thanh toán tiền điện nước…; việc triển khai thí điểm cung ứng phương tiện thanh toán Ví điện tử của các tổ chức không phải tổ chức tín dụng cũng có bước phát triển nhanh chóng, trong đó số lượng phát hành đạt gần 84.500 Ví điện tử với 17 ngân hàng tham gia triển khai dịch vụ và được chấp nhận thanh toán tại 119 đơn vị cung ứng hàng hóa dịch vụ.
4. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng:
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tham gia Hội nghị thường niên ADB lần thứ 43 tại Tashkent – Uzbekistan (ngày 03-05/5). Tại Hội nghị, Hội đồng Thống đốc ADB đã thông qua Nghị quyết chọn Việt Nam là quốc gia đăng cai tổ chức Hội nghị thường niên ADB lần thứ 44 (diễn ra từ ngày 3-6/5/2011 tại Hà Nội) và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu được bầu giữ chức Chủ tọa Hội nghị thường niên lần thứ 44 của ADB.
- Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, ngày 22/3/2010, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) tổ chức thành công hội thảo quốc tế cấp cao của IMF tại Hà Nội với chủ đề “Tăng trưởng và giảm nghèo tại các nước Châu Á đang phát triển giai đoạn hậu khủng hoảng”.
- Trong khuôn khổ hợp tác khu vực, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức thành công Hội nghị Phó Thống Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN (ACDM) lần thứ 18 và Hội nghị Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN (ACGM) lần thứ 6 tại Nha Trang, Khánh Hòa trong 02 ngày 4/4 và 7/4/2010; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã tham dự Hội nghị Thống đốc lần thứ 45 của Trung tâm Đào tạo các Ngân hàng Trung ương khu vực Đông và Nam Á (SEACEN), Hội nghị Hội đồng Thống đốc SEACEN lần thứ 29 tổ chức từ ngày 26-28/2/2010 tại Campuchia.
- Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện tốt vai trò đầu mối phối hợp với các bộ, ngành chuẩn bị, đàm phán, ký kết các chương trình, dự án vay vốn của WB, ADB, JBIC...; khai thác tối đa nguồn hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế và các đối tác song phương, đa phương nhằm tăng cường năng lực quản lý, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
5. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, công tác cải cách thủ tục hành chính:
- Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các đơn vị trong toàn Ngành chủ động cung cấp thông tin cho cơ quan thông tấn, báo chí về các hoạt động tiền tệ, ngân hàng để các cơ quan này có thông tin chính xác, tin cậy phục vụ cho việc đưa tin, giải thích, định hướng dư luận và tạo lòng tin cho các nhà đầu tư; phối hợp với các cơ quan liên quan giám sát chặt chẽ việc đưa tin liên quan đến hoạt động ngân hàng để kịp thời phát hiện và xử lý những thông tin thiếu chính xác, gây bất ổn thị trường, ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân.
- Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nghiêm túc, khẩn trương giai đoạn 2 Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính theo đúng yêu cầu, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Tổ công tác chuyên trách của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn thành phương án đơn giản hoá đối với 228 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước và tổ chức Lễ công bố kết quả giai đoạn rà soát thủ tục hành chính (giai đoạn 2) với tỷ lệ đơn giản hoá thủ tục hành chính đạt 85% (vượt chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao) và tỷ lệ cắt giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính sau khi đơn giản hoá là 30,93 %, dự kiến tiết kiệm được 8,9 tỷ đồng hàng năm.
II- ĐỊNH HƯỚNG NHIỆM VỤ CÔNG TÁC 6 THÁNG CUỐI NĂM 2010
1. Điều hành lượng tiền cung ứng theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thông qua các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo tổng phương tiện thanh toán và tín dụng cả năm 2010 tăng khoảng 20-25%.
2. Điều tiết mặt bằng lãi suất thị trường theo hướng giảm dần thông qua các biện pháp: (i) Tăng lượng tiền cung ứng; (ii) Ổn định các mức lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất hoán đổi ngoại tệ; (iii) Tăng thêm khối lượng vốn giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở với kỳ hạn và lãi suất hợp lý; (iv) Tiếp tục cho vay tái cấp vốn để hỗ trợ các ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng đối với nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa; (v) Phối hợp với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam thúc đẩy các ngân hàng thương mại thực hiện đồng thuận về lãi suất huy động và cho vay theo hướng giảm, phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ.
3. Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối theo hướng ổn định, phù hợp với các cân đối vĩ mô.
4. Tổ chức triển khai Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung cho vay chi phí sản xuất, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa; kiểm soát chặt chẽ vốn cho vay lĩnh vực phi sản xuất.
5. Tiếp tục thực hiện các giải pháp đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Giám sát chặt chẽ và xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh trong việc chỉ đạo các tổ chức tín dụng có mức vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng tăng đủ vốn điều lệ theo quy định vào thời điểm 31/12/2010.
6. Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác tổng hợp, phân tích thông tin kinh tế vĩ mô, dự báo sát tình hình kinh tế, tiền tệ trong nước và thế giới để phục vụ có hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động tiền tệ, ngân hàng; phối hợp với các bộ, ngành để nâng cao chất lượng lập, phân tích và dự báo cán cân thanh toán quốc tế.
7. Tiếp tục triển khai các đề án thành phần thuộc Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010. Xây dựng và hoàn thiện Đề án chi tiết đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2011-2015.
8. Nâng cao chất lượng, tần suất của công tác truyền thông về điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đảm bảo cho các thông tin này đến với người dân và doanh nghiệp một cách thường xuyên, kịp thời, đầy đủ và chính xác.
9. Tích cực triển khai công tác cải cách hành chính với trọng tâm là hoàn thành giai đoạn 2, giai đoạn 3 của Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Chính phủ.