|
 |
|
Trần Minh Tuấn
Phó Thống Đốc
thường trực NHNN
Uỷ viên Hội đồng
quản trị BHTG VN |
Sự đổ
vỡ của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân vào cuối
những năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ
trước đã để lại những hậu quả không tốt về mặt
kinh tế, chính trị và xã hội trong một khoảng
thời gian dài sau đó. Sau sự đổ vỡ trên thì Nhà
nước, ngành ngân hàng đã nghĩ đến việc thiết lập
một mô hình bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy
trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, đảm bảo
sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân
hàng. Tuy nhiên, ý tưởng này ban đầu được hình
thành một cách chậm chạp do những hạn chế về mặt
nhận thức nói chung cũng như những khó khăn về
mặt tài chính của Nhà nước. Việc bảo hiểm tiền
gửi cho người gửi tiền tại thời điểm này rất
manh mún và mang tính chất tình thế, thể hiện
qua việc mới chỉ có Bộ Tài chính ban hành Quy
tắc bảo hiểm trách nhiệm dân sự của quỹ tín dụng
nhân dân đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn và
Bảo Việt là tổ chức thực hiện nghiệp vụ này.
Việc
nghiên cứu tìm ra một mô hình bảo hiểm tiền gửi
ở Việt Nam chỉ thực sự được nghiên cứu một cách
nghiêm túc từ năm 1997 khi Quốc hội thông qua
hai đạo luật quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng
vào tháng 12 năm 1997 là Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng. Sau khi
nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, những thuận lợi
– khó khăn của Việt Nam, tháng 5/1998 Thủ tướng
Chính phủ đã có văn bản giao trách nhiệm cho
Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các Bộ, ngành
liên quan xây dựng Nghị định của Chính phủ về
bảo hiểm tiền gửi và Đề án thành lập tổ chức bảo
hiểm tiền gửi của Việt Nam.
Sau
hơn một năm nghiên cứu, khảo sát và thẩm định,
thông qua; ngày 01/9/1999 Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi,
ngày 09/11/1999 Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg về việc thành lập
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Mục
tiêu của chính sách bảo hiểm tiền gửi trong thời
kỳ này là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của
các tổ chức tín dụng, đảm bảo sự phát triển an
toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng.
Vào
thời điểm cuối những năm 90, việc thành lập Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước là
phù hợp vì thứ nhất, tại thời điểm này hệ thống
ngân hàng, tổ chức tín dụng chưa thực sự lớn
mạnh và còn nhiều rủi ro mà đặc biệt là hệ thống
qũy tín dụng nhân dân; thứ hai, hoạt động bảo
hiểm thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài
chính, ngân hàng gần như còn bỏ ngỏ; thứ ba,
Hiệp hội ngân hàng chưa thực sự đủ mạnh để đứng
ra liên kết các ngân hàng trong cơ chế tự bảo vệ
nên Nhà nước phải đứng ra xử lý rủi ro tiền gửi
thông qua Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam; thứ tư,
đây cũng chính là kinh nghiệm của nhiều nước
trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát
triển ở khu vực Đông Nam á.
Trong
5 năm qua, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam liên tục
phát triển cả về tổ chức và năng lực hoạt động,
hoàn thành tốt nhiệm vụ được Nhà nước giao.
Về quản trị, ngay từ ngày đầu thành lập, Hội
đồng quản trị Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã có
đủ các thành viên có năng lực thực sự để thực
hiện chức năng quản lý và chỉ đạo thực hiện
nhiệm vụ được giao. Tính đến nay, Hội đồng quản
trị đã tổ chức gần 20 phiên họp để ban hành
nhiều Nghị quyết, quyết định quan trọng liên
quan tới việc tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam; Phê duyệt tổ chức bộ máy của
Trụ sở chính; Quyết định thành lập 6 chi nhánh
bảo hiểm tiền gửi khu vực để tổ chức thực hiện
tốt chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam; Ban hành 19 văn bản quản trị để đáp
ứng yêu cầu về quản trị hoạt động và yêu cầu từ
thực tiễn đặt ra; cho ý kiến chỉ đạo đối với
nhiều vấn đề cấp bách mà thực tiễn đòi hỏi như
định hướng xử lý đối với những tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn trong hoạt động,
quyết định 33 phương án chi trả tiền bảo hiểm
cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi bị chấm dứt hoạt động …
Về
điều hành,Tổng giám đốc là thành viên Hội đồng
quản trị nên có nhiều thuận lợi trong việc nắm
vững và tổ chức thực hiện tốt các Nghị quyết,
quyết định của Hội đồng quản trị cũng như việc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ khác theo quy định
của pháp luật. Trong điều hành, Tổng giám đốc đã
xử lý tốt mối quan hệ với Đảng uỷ, Công đoàn và
các tổ chức đoàn thể, tranh thủ được sự chỉ đạo
của các Bộ, ngành liên quan, trí tuệ tập thể cơ
quan cũng như duy trì được sự đoàn kết, nhất trí
nội bộ.
Từ đó,
việc triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã thu được những
kết quả đáng trân trọng như: ban hành 18 văn bản
điều hành làm cơ sở cho sự thống nhất hành động
trong toàn hệ thống; đã cấp và thu hồi giấy
Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi một cách kịp thời
tạo ra sự tin tưởng vào chính sách bảo hiểm tiền
gửi từ các tổ chức tham gia hoạt động này; việc
thu phí bảo hiểm được thực hiện tương đối triệt
để, không xảy ra tình trạng chây ỳ trong việc
nộp phí tạo cơ sở tài chính vững chắc cho việc
thực hiện các nghiệp vụ khác; thực hiện có hiệu
quả 2 phương pháp giám sát đối với tổ chức tham
gia bảo hiểm tiền gửi là giám sát từ xa và kiểm
tra tại chỗ từ đó có những cảnh báo kịp thời để
tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khắc phục
những thiếu sót trong hoạt động, góp phần duy
trì sự ổn định của tổ chức tín dụng, đảm bảo sự
phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân
hàng; thực hiện việc chi trả trên 16 tỷ đồng
tiền bảo hiểm cho 1.476 người gửi tiền tại 33 tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản, giải
thể bắt buộc trên 10 tỉnh, thành của cả nước. Từ
đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
người gửi tiền, củng cố sự tin tưởng của xã hội
vào hoạt động ngân hàng …
Như
vậy, qua 5 năm hoạt động và phát triển Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam đã thực sự bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy
trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, đảm bảo
sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân
hàng; đây cũng là thực tiễn chứng minh cho sự
đúng đắn của Nhà nước trong việc ban hành chính
sách bảo hiểm tiền gửi.
Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì
qua 5 năm thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi
cũng đã bộc lộ một số tồn tại cần phải sửa đổi,
bổ sung theo một lộ trình thích hợp.
Trước
hết, quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
cần phải khắc phục một số bất cập đã thể hiện
trong thực tiễn như việc xác định chính xác thời
điểm, điều kiện để chi trả tiền bảo hiểm vì nếu
thực hiện việc chi trả tiền bảo hiểm như hiện
nay thì việc thu hồi các khoản tiền đã chi trả
từ kết quả thanh lý tổ chức tham gia bảo hiểm
chưa được pháp luật quy định một cách rõ ràng và
sự nhận thức của các đối tượng chịu sự điều
chỉnh của Chính sách này chưa thống nhất; chưa
có một cơ chế rõ ràng cho hoạt động hỗ trợ tài
chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đối với tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn
trong hoạt động như quy định liên quan của pháp
luật, cơ chế xử lý rủi ro…
Về vận
hành cụ thể, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cần
thiết phải được tăng cường về nguồn lực nói
chung và năng lực tài chính nói riêng để sẵn
sàng đối đầu với những thách thức từ thực tế như
hỗ trợ tài chính đối với những tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn lớn trong việc
chi trả ( như đã xảy ra đối với ngân hàng thương
mại á châu), hoặc chi trả tiền bảo hiểm tại các
tổ chức tín dụng lớn, tiếp nhận và thực hiện một
số nghiệp vụ tài chính trung gian do các cơ quan
quản lý Nhà nước chuyển giao …
Để
chính sách bảo hiểm tiền gửi đi vào cuộc sống,
phục vụ đắc lực hơn việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự
ổn định của các tổ chức tín dụng, đảm bảo sự
phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân
hàng, cần thiết phải thực hiện một số việc sau:
Kiến
nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
xây dựng Pháp lệnh hoặc Luật bảo hiểm tiền gửi,
đưa chính sách bảo hiểm đồng bộ với các quy định
của pháp luật và khắc phục triệt để được những
tồn tại hiện nay, đáp ứng được yêu cầu hội nhập
quốc tế về lĩnh vực này;
Xây
dựng Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thành một tổ
chức lớn mạnh, hiện đại, phù hợp với các thông
lệ quốc tế, đáp ứng tốt nhất yêu cầu duy trì sự
ổn định và phát triển lành mạnh của hệ thống
dịch vụ tài chính – ngân hàng, quản lý hiệu quả
và phát triển bền vững |