|
 |
|
TS.
Dương.T.Hương
Phó Chủ nhiệm UBKT&NS Quốc hội
Nguyên Phó Thống
đốc NHNN |
1. Hoạt
động kinh doanh trên lĩnh vực ngân hàng là hoạt
động có nhiều rủi ro, trong đó rủi ro về tín
dụng, rủi ro kinh doanh ngoại tệ, rủi ro trong
các nghiệp vụ thanh toán,... là những rủi ro
lớn, dễ xảy ra uy hiếp đến tính an toàn của hệ
thống NH. Vì vậy, trong lịch sử phát triển của
NH, các nước trên thế giới đã phải tìm ra các
giải pháp để kiểm soát và xử lý khi rủi ro xảy
ra. Hệ thống các giải pháp đó được hình thành
rất khoa học:
- Để
có thể phòng ngừa hoặc kiểm soát rủi ro, người
ta đã xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu kinh
tế, được sử dụng như một thước đo mức độ rủi ro,
giúp người quản lý và điều hành có thể dự báo,
nhận định tình hình, đề ra các giải pháp xử lý
kịp thời.
- Để
có thể xử lý được các rủi ro, người ta cũng xây
dựng những biện pháp nghiệp vụ như một công cụ
để xử lý bằng cách trích từ chi phí nghiệp vụ để
phòng ngừa rủi ro. Với các khoản trích này được
tích lũy trong một thời gian, đã giúp NH có đủ
nguồn lực vật chất để xử lý khi rủi ro xảy ra.
Tuy nhiên, giải pháp này cũng chỉ là giải pháp
“tự giúp mình” để xử lý các khoản cho vay ra
nhưng không thu hồi nợ được...
- Còn
một khả năng bất trắc nữa có thể xảy ra là: Có
thể, có một lúc nào đấy, có một NH nào đấy, do
điều hành chưa tốt hoặc do một lý do nào đấy nên
khả năng thanh toán bị đe dọa hoặc mất khả năng
thanh toán, lúc đó không thể tự mình có đủ lực
để thực hiện chi trả cho người gửi, cần có sự hỗ
trợ từ bên ngoài. Vì vậy, bên cạnh hoạt động của
hệ thống NH, một hệ thống mang tính chất là một
tổ chức với chức năng là “bảo hiểm tiền gửi” cho
khách hàng ra đời, sẽ hỗ trợ cho NH khi tình
huống xảy ra. Nhưng quan trọng hơn là có bảo
hiểm tiền gửi sẽ tạo niềm tin cho khách hàng của
NH, giúp NH hàng tăng thêm uy tín và thuận lợi
trong hoạt động.
2. Nhớ
lại mười năm trước đây, hoạt động NH thật “cô
đơn”: Chưa có hệ thống đánh giá rủi ro đầy đủ,
chưa được phép trích phòng ngừa rủi ro, cũng
chẳng có một “đồng nghiệp bảo hiểm” nào đứng bên
cạnh để hỗ trợ khi có sự cố xảy ra.
Tôi
nhớ lại một thời xử lý sự đổ vỡ của Quỹ tín dụng
(những năm đầu thập kỷ 90), tiếp đến xử lý 1-2
NH cổ phần có vấn đề, sao mà gian nan, khó khăn
thế, chỉ cần 140 tỷ đồng để xử lý nhưng không
biết lấy đâu ra.
Thế
rồi cuộc sống cũng mách bảo chúng ta phải làm
gì. Từ giữa những năm 1990, trong muôn vàn khó
khăn thử thách, từng bước đi như dò đá dưới
sông, nhưng Ban Lãnh đạo NHNN đã xúc tiến những
đợt nghiên cứu lập dự án về trích phòng ngừa rủi
ro; giao nhiệm vụ cho hiệp hội và vụ chức năng
NHNN nghiên cứu về mô hình bảo hiểm tiền gửi;
giao thanh tra NHNN nghiên cứu xây dựng và hoàn
chỉnh hệ thống các chỉ tiêu đánh giá,... và thế
rồi cùng với các giải pháp khác được hình thành,
bảo hiểm tiền
|
 |
|
Thống
đốc NHNNVN Lê Đức Thuý phát biểu
tại hội nghị sơ kết 3 năm hoạt động
BHTGVN |
gửi
được ra đời, một tin vui đối với người gửi tiền,
giúp người gửi tiền yên tâm hơn khi gửi tiền vào
NH. Còn đối với hệ thống NH, từ nay, NH không
còn “cô đơn” nữa, trên bước đường đi của mình,
đã có một người bạn (bảo hiểm tiền gửi), lại có
một cái gậy (trích phòng ngừa rủi ro), có thêm
một cái thước để đo, để phát hiện sớm các rủi ro
có thể xảy ra (hệ thống các chỉ tiêu an toàn hệ
thống). Hoạt động NH thật yên tâm và tăng thêm
uy tín với khách hàng nếu NHTM nào có tham gia
bảo hiểm tiền gửi.
3. Tuy
thời gian ngắn, nhưng 5 năm qua Bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam (BHTGVN) đã làm được nhiều việc: đã
xây dựng được một hệ thống tổ chức tương đối
hoàn chỉnh; có chi nhánh ở nhiều tỉnh và thành
phố; đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp
lý cho hoạt động của mình; đã “ra tay” thể hiện
và khẳng định vị trí của mình qua những đợt xử
lý thực tế. Kết quả những hoạt động đó đã khẳng
định sự ra đời mô hình và chức năng của BHTG là
đúng đắn và rất cần thiết đối với đòi hỏi của xã
hội ngày càng phát triển cao.
4. Tuy
nhiên, so với yêu cầu thì sự phát triển của
BHTGVN còn nhỏ bé. So với các tổ chức BHTG của
các nước phát triển thì BHTGVN chậm phát triển
và chưa thực hiện hết các chức năng của một cơ
quan BHTG.
Sau
khủng hoảng kinh tế khu vực ASEAN, tôi có dịp đi
khảo sát tại Hàn Quốc và Thái Lan. Tôi nhận thấy
các nước đã cải tiến và xây dựng một hệ thống
các cơ quan hoạt động bên cạnh NHTM và NHTW để
làm lành mạnh hoạt động NH, giúp NH xử lý các
khó khăn một cách hiệu quả hơn. Hệ thống đó là:
-
Thành lập một Uỷ ban kiểm tra trong các lĩnh vực
tài chính, NH, chứng khoán, độc lập với các cơ
quan Bộ Tài chính, NHTW và Uỷ ban chứng khoán
Nhà nước để thực hiện thanh tra đối với Bộ Tài
chính, NHTM, Sở Giao dịch chứng khoán.
-
Thành lập và nâng cao hơn nữa vị thế của BHTG.
Tham gia vào quá trình cơ cấu lại hệ thống NHTM.
Cơ quan BHTG này còn được Chính phủ giao nhiệm
vụ huy động trái phiếu Chính phủ để cấp vốn cho
các NHTM (Quốc hữu hóa các NH tư nhân khi gặp
khó khăn) khi NHTM được “bơm” thêm vốn và được
xử lý các khoản nợ (nhờ AMC) trở thành NH tốt,
Chính phủ lại tư nhân hóa” để lấy tiền trả lại
cho người mua trái phiếu.
-
Thành lập các ACM để xử lý các tài sản của các
NHTM.
Với
kết quả hoạt động của 3 tổ chức này đã giúp hệ
thống NH Hàn Quốc mau chóng khắc phục khó khăn,
mau chóng được củng cố sắp xếp lại để trở thành
NH vững mạnh hơn.
5. Vì
vậy, BHTG cần phải phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Một trong các giải pháp quan trọng là phải tạo
hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động của BHTG.
Tôi nghĩ, cần phải có một đạo luật quy định về
BHTG, hoạt động, tổ chức, chức năng, quyền hạn,
trách nhiệm, năng lực về tài chính,... để BHTG
có căn cứ pháp lý phát triển và đủ sức đáp ứng
được yêu cầu của hệ thống NHTM ngày càng phát
triển |